Mở đầu Chương 2: Cơ sở lí luận Chương 3: Phương pháp nghiên cứu thực hiện Chương 4: Thực trạng của công ty và chính sách sản phẩm Chương 5: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách sản phẩm để thu hút thị trường Gen Z 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM TRONG KINH DOANH LỮ HÀNH 2. Cơ sở lí luận về doanh nghiệp lữ hành 2. Khái niệm lữ hành Theo nghĩa rộng: Hoạt động lữ hành bao gồm tất cả những hoạt động di chuyển của con người cũng như những hoạt động có liên quan đến sự di chuyển đó. Với cách tiếp cận này thì hoạt động lữ hành có bao hàm yếu tố lữ hành nhưng không phải tất cả các hoạt động lữ hành là hoạt động du lịch.
Tại các nước phát triển, đặc biệt là các nước Bắc Mỹ thì thuật ngữ Lữ hành (Travel) và Du lịch được hiểu một cách tương tự. Vì vậy người ta dùng thuật ngữ Lữ hành – Du lịch để ám chỉ các hoạt động đi lại và các hoạt động khác có liên quan đến chuyến đi với mục đích du lịch. Theo nghĩa hẹp: Đề cập đến Lữ hành ở phạm vi hẹp hơn để phân biệt hoạt động kinh doanh du lịch trọn gói với các hoạt động kinh doanh du lịch khác như: khách sạn, vui chơi giải trí…, người ta giới hạn hoạt động lữ hành chỉ bao gồm những hoạt động tổ chức các hoạt động du lịch trọn gói. Điểm xuất phát của cách tiếp cận này là người ta cho rằng hoạt động lữ hành chủ yếu là các hoạt động kinh doanh du lịch trọn gói.
Tiêu biểu cho cách tiếp cận này là định nghĩa về “Lữ hành” trong Luật Du lịch Việt Nam. “Lữ hành là việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch cho khách du lịch. Định nghĩa về kinh doanh lữ hành Khái niệm kinh doanh lữ hành: Kinh doanh lữ hành: là việc thực hiện các hoạt động nghiên cứu thị trường, thành lập các hoạt động du lịch trọn gói hay từng phần, quảng cáo, bán các chương trình du lịch này một cách trực tiếp hay gián tiếp thông qua các trung gian hay văn phòng đại diện, tổ chức các chương trình du lịch. Các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành được phép tổ chức các mạng lưới lữ hành.
5 Theo thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định 27/2001/NĐ-CP của Chính phủ về kinh doanh lữ hành và hướng dẫn du lịch: “Kinh doanh lữ hành là việc xây dựng bán và tổ chức thực hiện các chương trình du lịch nhằm mục đích sinh lợi”. Khái niệm kinh doanh đại lý lữ hành: Kinh doanh đại lý lữ hành là việc tổ chức, cá nhân nhận bán chương trình du lịch của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành cho khách du lịch để hưởng hoa hồng. Tổ chức, cá nhân kinh doanh đại lý lữ hành không được tổ chức thực hiện chương trình du lịch”. Phân loại kinh doanh lữ hành Kinh doanh lữ hành bao gồm kinh doanh lữ hành nội địa, kinh doanh lữ hành quốc tế.
Kinh doanh lữ hành nội địa là việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện các chương trình du lịch cho khách du lịch nội địa và phải có đủ 3 điều kiện: - Có phương án kinh doanh lữ hành nội địa; có chương trình du lịch cho khách du lịch nội địa. - Thực hiện ký quỹ kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa với mức ký quỹ là 100 triệu đồng. - Người điều hành hoạt động kinh doanh lữ hành nội địa phải có thời gian ít nhất ba năm hoạt động trong lĩnh vực lữ hành. Kinh doanh lữ hành quốc tế là việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện các chương trình du lịch cho khách du lịch quốc tế và phải có đủ 5 điều kiện.
Đặc điểm kinh doanh lữ hành Kinh doanh lữ hành mang tính mùa vụ rõ rệt. Nhu cầu về các dịch vụ du lịch thay đổi tuỳ theo từng mùa nên gây rất nhiều khó khăn trong kinh doanh lữ hành. Kinh doanh lữ hành là hình thức kinh doanh tổng hợp gồm nhiều loại hình kinh doanh nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch. 6 Về môi trường kinh doanh, kinh doanh lữ hành luôn phải đương đầu với sự cạnh tranh cao do kinh doanh lữ hành là một ngành kinh doanh có lợi nhuận cao nên có rất nhiều nhà kinh doanh đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh này.
Trong thời gian ngắn người ta không thể thay đổi được lượng cung trong khi nhu cầu lại luôn biến đổi. Vì vậy, các nhà kinh doanh du lịch cần phải giải quyết cân đối mối quan hệ cung cầu. Các dịch vụ của kinh doanh lữ hành rất dễ sao chép, nên trong chiến lược kinh doanh cần tạo ra các khác biệt, mới lạ nhằm kích thích sự tò mò của khách. Khi nhu cầu của con người ngày càng cao hơn thì sự cạnh tranh chuyển từ cạnh tranh giá sang cạnh tranh chất lượng.
Ngày nay, đối với khách du lịch thì giá cả không còn là yếu tố quan trọng hàng đầu nữa vì họ mua sản phẩm du lịch không chỉ để thoả mãn nhu cầu cốt lõi mà họ còn mua sản phẩm trông đợi, sản phẩm phụ thêm, để cảm nhận một cách hoàn hảo nhất sản phẩm du lịch. Hệ thống sản phẩm kinh doanh lữ hành Dựa vào tính chất và nội dung, có thể chia sản phẩm của các công ty lữ hành làm 3 nhóm: - Chương trình du lịch - Dịch vụ trung gian - Các sản phẩm tổng hợp khác * Chương trình du lịch: Chương trình du lịch là sản phẩm chủ yếu và đặc trưng của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành. Các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành liên kết các sản phẩm của các nhà sản xuất riêng lẻ thành một sản phẩm hoàn chỉnh và bán cho khách với mức giá gộp. Quy trình kinh doanh chương trình du lịch trọn gói gồm năm giai đoạn: - Thiết kế chương trình và tính kinh phí.
- Tổ chức xúc tiến (truyền thông) hỗn hợp. 7 - Tổ chức kênh tiêu thụ. - Tổ chức thực hiện. - Tổ chức các hoạt động sau khi kết thúc thực hiện.
* Dịch vụ trung gian: Các dịch vụ trung gian hay còn gọi là các dịch vụ đơn lẻ. Đây là loại dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh lữ hành làm trung gian giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm cho các nhà cung cấp sản phẩm du lịch để hưởng hoa hồng. Hầu hết các dịch vụ này được tiêu thụ một cách đơn lẻ không có sự gắn kết với nhau, thoả mãn độc lập từng nhu cầu của khách. Các dịch vụ trung gian bao gồm: - Dịch vụ vận chuyển (đăng ký, đặt chỗ, bán vé, cho thuê phương tiện…).
- Dịch vụ lưu trú và ăn uống. - Dịch vụ đăng ký, đặt chỗ, bán các chương trình du lịch. - Dịch vụ môi giới và bán bảo hiểm. - Dịch vụ tư vấn thiết kế lộ trình.
- Dịch vụ bán vé xem biểu diễn nghệ thuật, tham quan, thi đấu thể thao và các sự kiện khác. - Các dịch vụ môi giới và trung gian khác… * Các sản phẩm tổng hợp khác: - Du lịch khuyến thưởng là một dạng đặc biệt của chương trình du lịch trọn gói với chất lượng tốt nhất được tổ chức theo yêu cầu của các tổ chức kinh tế hoặc phi kinh tế. - Du lịch MICE. - Chương trình du học.
- Tổ chức các sự kiện văn hoá xã hội, kinh tế, thể thao lớn. - Các loại sản phẩm và dịch vụ khác theo hướng liên kết dọc nhằm phục vụ khách du lịch trong một chu trình khép kín để có điều kiện, chủ động kiểm soát và bảo đảm được chất lượng của chương trình du lịch trọn gói. Cơ sở lí luận về khách du lịch tiềm năng 2. Khái niệm khách du lịch Khách du lịch trong tiếng Anh được gọi là Tourists.
Theo một số nhà nghiên cứu, khái niệm khách du lịch lần đầu tiên xuất hiện vào cuối thế kỉ XVIII tại Pháp và được hiểu là: "Khách du lịch là những người thực hiện một cuộc hành trình lớn''. Vào đầu thế kỉ XX, nhà kinh tế học người Áo, Josef Stander định nghĩa: "Khách du lịch là những hành khách đi lại, ở lại theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thỏa mãn các nhu cầu sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi các mục đích kinh tế''. Tại điều 4, chương I, Luật Du lịch Việt Nam (2005) qui định: "Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến''. Phân loại khách du lịch Theo Tổ chức Du lịch Thế giới khách du lịch gồm có khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa.
- Khách du lịch quốc tế là một người ra khỏi quốc gia đang sinh sống trong thời gian ít nhất 24h và không quá 12 tháng liên tục với mục đích không phải là làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến. - Khách du lịch nội địa là một người ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đó với thời gian ít nhất 24h và không quá 12 tháng liên tục với mục đích không phải là làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến. Ở nước ta khách du lịch gồm khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa: - Khách du lịch quốc tế gồm hai nhóm khách: khách du lịch vào Việt Nam (khách inbound) và khách du lịch ra nước ngoài (khách outbound). + Khách du lịch vào Việt Nam (khách inbound): là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch.
9 + Khách du lịch ra nước ngoài (khách outbound): là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch. - Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Khái niệm Gen Z Theo Forbes, Gen Z được định nghĩa là thế hệ của những người sinh ra trong khoảng thời gian từ 1996 đến 2010, đó là một thế hệ lớn lên và sống trong thế giới của công nghệ, kết nối và những biến động, thay đổi toàn cầu. So với các thế hệ trước, Gen Z nổi bật là thế hệ với sự nhận thức sâu sắc về bản thân, vô cùng độc đáo trong quan niệm, niềm tin, hành vi và trải nghiệm.
Tính đến năm 2019, trong khi Gen Y chiếm 35% thì Gen Z đã chiếm đến 32% dân số toàn cầu (thống kê của Liên Hiệp Quốc), được dự báo là lực lượng lao động và tiêu dùng chủ yếu của xã hội trong vài năm tới. Ở Việt Nam, gen Z hiện cũng đang chiếm 1/7 dân số, tương đương khoảng 14.