CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIÊN VÀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC CÁP ĐƠN VỊ 1. CHIẾN LƯỢC VÀ CÁC CÁP CHIẾN LƯỢC TRONG TÔ CHỨC 1. Khái niệm và vai trò của chiến lược a. Khái niệm Khái niệm chiến lược có từ thời Hy Lạp cổ đại.
Thuật ngữ này vốn có nguôn gốc xâu xa từ quân sự, xuất phát từ “S/regos” nghĩa là vai trò của vị tướng trong quân đội. Sau đó, nó phát triển thành “Nghệ thuật của tướng lĩnh"- nói đến các kỹ năng hành xử và tâm lý của tướng lĩnh. Đến khoảng năm 330 trước công nguyên, tức là thời Alexander Đại đế chiến lược dùng để chỉ kỹ năng quản trị để khai thác các lực lượng để đè bẹp đối phương và tạo dựng hệ thống thống trị toàn cục. Có rất nhiều định nghĩa tốt về chiến lược, sự khác nhau giữa các định nghĩa thường là do quan điểm của mỗi tác giả [12].
- Theo Chandler (1962), một trong những nhà khởi xướng và phát triển lý thuyết về quản trị chiến lược định nghĩa: chiến lược là sự xác định các mục tiêu và mục đích dài hạn của doanh nghiệp, và sự chấp nhận chuỗi các hành động cũng như phân bổ nguồn lực cần thiết để thực hiện các mục tiêu này. - Theo Quinn (1980): Chiến lược là mô thức hay kế hoạch thích hợp các. mục tiêu cơ bản, các chính sách và chuỗi các hành động của tổ chức vào trong một tông thể có kết chặt chẽ.Porter (2009): Chiến lược là sự sáng tạo ra vị thé có giá trị và độc đáo bao gồm các hoạt động khác biệt, là sự chọn lựa, đánh đổi trong cạnh tranh, là việc tạo ra sự phù hợp giữa tắt cả các hoạt động của công. 12 - Theo Johnson và Scholes định nghĩa: Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức về dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đồi, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thỏa mãn mong đợi của các bên hữu quan [12].
- Chúng ta thấy rằng, các định nghĩa phân chia thành nhiều ý. Điều đó, chứng tỏ rằng một định nghĩa chính xác về chiến lược sẽ rất phức tạp. Do đó, phải có các định nghĩa đa diện để giúp hiểu rõ hơn về chiến lược. Theo Minrzberg tóm lược định nghĩa đa diện trong định nghĩa với 5 chữ P như sau: + Kế hoạch (Plan): Một chuỗi các hành động dự định có ý thức.
+ Khuôn mẫu (Pattern): Sự kiên định về hành vi theo thời gian, dự định hay không dự định. + B6 tri (Position): Su phù hợp giữa tổ chức và môi trường của nó. + Triển vọng (Perspective): Một cách thức thâm căn cố lẻ nhận thức thể giới. + Thủ đoạn (Ploy): Một cách thức cụ thẻ đề vượt lên trên đối thủ.
Vai trò của chiến lược - Chiến lược phát triển đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại va phát triển của mỗi tổ chức. Chiến lược phát triển đúng đắn sẽ tạo một hướng đi tốt cho mọi tô chức, chiến lược phát triển có thể coi như kim chỉ nam dẫn đường cho tổ chức đi đúng hướng [5]. - Trong thực tế, có rất nhiều nhà quản trị nhờ có chiến lược phát triển đúng đắn mà đạt được nhiều thành công, vượt qua đối thủ cạnh tranh và tạo vị thế cho mình trên lĩnh vực hoạt động đó. Chiến lược phát triển mang lại rất nhiều lợi ích cho tổ chức, tầm quan trọng của nó được thể hiện ở những mặt sau: - Chiến lược phát triển giúp tổ chức định hướng cho hoạt động của 13 mình trong tương lai thông qua việc phân tích và dự báo môi trường hoạt động.
Bất kể một hoạt động nào trong mọi lĩnh vực thì luôn chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài và bên trong. Chiến lược phát triển giúp tổ chức vừa linh hoạt vừa chủ động để thích ứng với những biến động của thực. tế, đồng thời còn đảm bảo cho tô chức hoạt động và phát triển theo đúng hướng. Điều đó có thể giúp tổ chức phấn đấu thực hiện được mục tiêu và nâng cao vị thế của mình trong lĩnh vực đó, từ các hoạt động vì lợi nhuận cho đến phi lợi nhuận.
- Chiến lược phát triển giúp tổ chức nắm bắt được các cơ hội cũng như đầy đủ các nguy cơ đối với sự phát triển nguồn lực của tổ chức. Nó giúp tổ chức khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn lực, phát huy sức mạnh của mình. - Chiến lược tạo ra một quỹ đạo hoạt động cho tổ chức, giúp tô chức. liên kết được các cá nhân với các lợi ích khác cùng hướng tới một mục đích chung, cùng phát triển tô chức.
Nó tạo một mối liên kết gắn bó giữa các nhân viên với nhau và giữa các nhà quản lý với nhân n. Qua đó tăng cường và nâng cao hơn nữa nội lực của tổ chức. - Chiến lược phát triển là công cụ cạnh tranh có hiệu quả của tổ chức. Đối với những lĩnh vực đòi hỏi phải có sự cạnh tranh để tổn tại và phát triển như kinh doanh hoặc vì mục tiêu lợi nhuận, trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế hiện nay đã tạo nên sự ảnh hưởng và phụ thuộc qua lại lẫn nhau giữa các tổ chức hoạt động trong cùng ngành.
Chính quá trình đó đã tạo nên sự cạnh tranh khốc liệt giữa các tổ chức trên lĩnh vực đó. Ngoài những yếu tố cạnh tranh như: giá cả, chất lượng, quảng cáo, marketing, các tổ chức còn sử dụng chiến lược phát triển như một công cụ cạnh tranh có hiệu quả [10]. Các cấp chiến lược trong tổ chức Phân loại cấp chiến lược là một công việc quan trọng mà tại đó các nhà 14 quản trị cần lựa chọn những chiến lược phù hợp với mục tiêu đề ra cũng như phù hợp với nhiệm vụ, chức năng của từng bộ phận trong tổ chức hay toàn tổ chức. Xét theo quy mô và chức năng hoạt động của tổ chức mà ta chia ra thành ba cấp chiến lược cơ bản sau: a.
Chiến lược cấp công ty Chiến lược cấp công ty là hướng tới mục đích và phạm vi tông thể của tổ chức hoặc tới những mục tiêu dài hạn. Chiến lược cấp công ty, bao gồm: Chiến lược tập trung, chiến lược hội nhập, chiến lược đa dạng hoá, chiến lược liên minh, chiến lược thâm nhập, chiến lược tái cấu trúc, chiến lược cải Trên cơ sở của chiến lược công ty, các đơn vị kinh doanh và bộ phận chức năng sẽ triển khai thực hiện chiến lược của mình [6]. Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh (SBU) Đơn vị kinh doanh của công ty thực hiện kinh doanh theo một loại sản phẩm hoặc dịch vụ nên SBU nhằm định hướng phát triển từng ngành hoặc từng loại sản phẩm dịch vụ góp phần hoàn thành chiến lược cấp công ty. Dựa trên những phân tích môi trường bên ngoài, môi trường nội bộ và chiến lược của công ty, đơn vị kinh doanh sẽ phải xác định lợi thế kinh doanh của mình để xây dựng chiến lược phù hợp.
Nói khác đi là SBU chính là việc triển khai cụ thể hóa chiến lược của công ty nhằm tạo sự khác biệt của sản phẩm, dịch vụ mà đơn vị kinh doanh đang có lợi thế.Trong các chiến lược của đơn vị kinh doanh thì chiến lược marketing có thể xem là chiến lược trung tâm, nó sẽ liên kết phối hợp với các chiến lược của các bộ phận chức năng khác [6]. Chúng ta sẽ xem xét lợi hại của ba loại chiến lược chính ở cắp các đơn vị kinh doanh, đó là chiến lược dẫn đạo về chỉ phí; chiến lược tạo sự khác biệt và chiến lược tập trung vào các khe hở thị trường. Chiến lược cấp chức năng Chiến lược cắp chức năng (hay chiến lược hoạt động) là các chiến lược giúp cho các chiến lược cấp kinh doanh và cấp công ty thực hiện một cách hữu hiệu nhờ các bộ phận cấu thành trên phương diện các nguồn lực, các quá trình, con người và các kỹ năng cần thiết. Đây là chiến lược của cấp đơn vị cơ sở, là các bộ phận chức năng trong.
công ty như marketing, nhân sự, tài chính, nghiên cứu và phát triển. mối quan hệ với các chiến lược cấp đơn vị kinh doanh và chiến lược công ty, thì chiến lược cấp bộ phận chức năng sẽ hỗ trợ cho các chiến lược kia vì mỗi bộ phận chức năng sẽ có chiến lược cụ thể của bộ phận của mình như nhân sự sẽ có chiến lược phát triển nguồn nhân lực, marketing có chiến lược 7P, tài chính có chiến lược đầu tư tài chính cho sản phẩm mới. Các chiến lược này thường có thời gian theo từng thời kỳ của quá trình thực hiện SBU và chiến lược cấp công ty. Các chiến lược ở cả 3 cấp đều có mối quan hệ biện chứng với nhau.
Chiến lược của cấp trên là tiền đề cho chiến lược cấp dưới. Việc thực hiện thành công các chiến lược cấp thấp hơn sẽ giúp công ty đạt được mục tiêu da dé ra. Từ đó việc xây dựng và lựa chọn chiến lược ở cấp dưới phải thích hợp và có hướng phối hợp lẫn nhau thì tiến trình thực hiện chiến lược của công ty mới có khả năng thành công và đạt hiệu quả cao. Dựa vào những điều kiện tại địa điểm nghiên cứu và trong phạm vi của luận văn này, tác giả sẽ tập trung vào nghiên cứu xây dựng chiến lược phát triển cấp đơn vị (SBU) trong tổ chức [6].
Đặc điểm của chiến lược a. Tinh toan cuc Chiến lược phát triển là sơ đồ tổng thể về sự phát triển của tổ chức, nó quyết định quan hệ của tổ chức với môi trường khách quan. Tính toàn cục của 16 chiến lược phát triển thể hiện trên 3 mặt: - Chiến lược phát triển phải phù hợp với xu thế phát triển toàn cục của tô chức, là cương lĩnh chỉ đạo toàn bộ hoạt động của tổ chức. - Chiến lược phát triển của tổ chức phải phù hợp với xu thế phát triển của đất nước về các mặt kinh tế - xã hội trong một thời kỳ nhất định.
- Chiến lược phát triển của tổ chức phải phù hợp với trào lưu hội nhập. kinh tế thế giới. Tính toàn cục của chiến lược phát triển đòi hỏi phải xem xét tắt cả các bộ phận của tô chức, phải phân tích tình hình của toàn tổ chức, hoàn cảnh toàn quốc và hoàn cảnh qt. Nếu không có quan điểm toàn cục thì không thê có chiến lược phát triển 6|.
Tính nhìn xa “Trước kia, nhiều tô chức vì không có quy hoạch chiến lược, gặp việc gì làm việc ấy, chạy theo phong trào nên làm việc vất vả mà không hiệu quả.