CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC 1.1 Vai trò của chiến lược đối với một tổ chức 1.1 Một số khái niệm liên quan đến chiến lược 1.1 Chiến lược: Chiến lược được hiểu là những kế hoạch được thiết lập hoặc những hành động được thực hiện nhằm đạt tới các mục đích của tổ chức. Như vậy, chiến lược được xem là những kế hoạch cho tương lai (quản trị chiến lược phát triển vị thế cạnh tranh, Phạm Hữu Lam chủ biên).2 Mục đích và mục tiêu tổ chức * Sứ mạng: Sứ mạng được hiểu là lý do tồn tại, ý nghĩa của sự tồn tại và các họat động của tổ chức. Sứ mạng được thể hiện ra dưới dạng bản tuyên bố bằng văn bản. Sứ mạng của công ty chính là bản tuyên ngôn của công ty đối với xã hội, nó chứng minh tính hữu ích của công ty đối với xã hội.
Thực chất bản tuyên bố về sứ mạng của công ty tập trung làm sáng tỏ một vấn đề hết sức quan trọng: “công ty tồn tại nhằm mục đích gì ?”. Bản tuyên bố về sứ mạng thường phải đề cập đến sản phẩm, thị trường, khách hàng, công nghệ và những triết lý mà công ty theo đuổi. Bản tuyên bố về sứ mạng tạo cơ sở quan trọng cho việc lựa chọn đúng đắn các mục tiêu và các chiến lược của công ty, thêm nữa nó giúp tạo lập và củng cố hình ảnh của công ty trước xã hội, cũng như tạo ra sự hấp dẫn đối với các đối tượng hữu quan. * Các mục tiêu dài hạn: Nếu tuyên bố về sứ mạng là một nỗ lực để thể hiện tầm nhìn một cách rõ ràng và cụ thể hơn thì các mục tiêu chiến lược nhằm thể hiện các sứ mạng một cách cụ thể hơn nữa.
Mục tiêu là những trạng thái, những cột mốc, những tiêu đích cụ thể mà công ty muốn đạt được trong một khoảng thời gian nhất định. Các mục tiêu chiến lược của tổ chức có những đặc điểm sau đây: - Thứ nhất, các mục tiêu chiến lược bao gồm cả các mục tiêu tài chính và phi tài chính. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Thứ hai, các mục tiêu chiến lược tạo ra thứ tự các ưu tiên và cơ sở cho sự lựa chọn, đánh đổi. - Thứ ba, các mục tiêu chiến lược phải hiện thực khi những người lao động đưa ra những nỗ lực cần thiết.
- Thứ tư, các mục tiêu chiến lược liên quan tới hoạt động và kết hợp các chức năng khác nhau của tổ chức. * Các mục tiêu ngắn hạn: Các mục tiêu ngắn hạn có thể được xem như nền tảng từ đó các mục tiêu chiến lược được thực hiện. Các mục tiêu ngắn hạn thường có các đặc tính sau: Có thể đo lường được; Có thể giao cho mọi người; Thách thức nhưng có khả năng thực hiện; Giới hạn cụ thể về thời gian. Các mục tiêu ngắn hạn phải bảo đảm nhằm đạt tới các mục tiêu dài hạn của chiến lược tổng thể và hội nhập có hiệu quả vào chiến lược chung.
Các nhà quản trị phải luôn bảo đảm rằng việc thực hiện các nhiệm vụ và mục tiêu ngắn hạn phải được đặt trong bối cảnh của chiến lược và mục tiêu chung và nhằm đạt tới các mục tiêu dài hạn, sứ mạng của tổ chức.2 Tầm quan trọng của chiến lược và quản trị chiến lược đối với sự phát triển của tổ chức Trong những năm gần đây, lý luận và thực tiễn về quản trị đã có những thay đổi to lớn. Trong sự thay đổi đó, xây dựng và quản trị chiến lược đã và đang nhận được một sự chú ý đặc biệt của tất cả các nhà lý luận và các nhà quản trị trong thực tiễn. Để thấy được tầm quan trọng của xây dựng và quản trị chiến lược, trước hết cần hiểu những đặc điểm lớn của môi trường kinh doanh hiện đại. Những đặc điểm này chi phối và quyết định sự tồn tại và phát triển của tất cả các doanh nghiệp hiện nay, nó vừa tạo ra những cơ hội, vừa tạo ra những thách thức cho sự phát triển.
Đặc điểm lớn nhất là quá trình quốc tế hóa diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới. Quá trình này với hai xu thế đang đồng thời xảy ra: toàn cầu hóa và khu vực hóa. Toàn cầu hóa tức là sự phân công lao động diễn ra trên tòan thế giới. Sự phân công lao động quốc tế này làm nền kinh tế thế giới trở nên thống nhất, phụ thuộc lẫn nhau nhiều hơn.
Hơn nữa, việc hình thành các khu vực mậu 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dịch tự do (Liên minh châu Âu: EU, khu mậu dịch tự do Bắc Mỹ: NAFTA, khu mậu dịch tự do Đông nam Á: AFTA) trên toàn thế giới đang thúc đẩy tăng cường hợp tác khu vực và làm cho quá trình quốc tế hóa diễn ra nhanh và mạnh hơn. Quá trình quốc tế hóa gắn liền với việc giảm và gỡ bỏ các rào cản thương mại tạo ra những thị trường rộng lớn hơn, và những cơ hội cho sự phát triển to lớn và dễ dàng hơn. Tuy nhiên, quốc tế hóa cũng làm cho sự cạnh tranh trở nên toàn cầu, gay gắt và dữ dội hơn; đồng thời lợi thế so sánh bị giảm do các nguồn lực di chuyển dễ dàng hơn. Tận dụng những cơ hội của quá trình quốc tế hóa và đương đầu với cạnh tranh toàn cầu trở thành thách thức lớn nhất cho sự tồn tại và phát triển của các tổ chức và đây cũng là thách thức lớn nhất đối với quản lý hiện nay và những năm tới.
Đặc điểm thứ hai là cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật- công nghệ đang diễn ra với tốc độ như vũ bão. Với tốc độ chưa từng có của cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật- công nghệ, một khối lượng khổng lồ các kiến thức và công nghệ được tạo ra. Những lợi ích to lớn của cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật- công nghệ đã được biết đến nhiều, song nó cũng tạo ra những thách thức to lớn cho sự phát triển của tổ chức. Tốc độ phát triển sản phẩm mới diễn ra rất nhanh tạo ra các sản phẩm mới hiệu quả hơn, làm cho các sản phẩm hiện hữu trở nên bị lạc hậu và chu kỳ đời sống sản phẩm bị rút ngắn lại.
Không những bản thân sản phẩm bị lỗi thời mà công nghệ cũng ở trong tình trạng như tương tự. Sự lạc hậu của công nghệ và sản phẩm đòi hỏi các công ty phải ứng dụng nhanh nhất các thành tựu mới nhất vào sản xuất- kinh doanh, phải khuyến khích và hỗ trợ mọi người sáng tạo, phải có một hệ thống năng động đủ sức thích ứng với những tiến bộ nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật- công nghệ. Một trong những đặc điểm đặc biệt của cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật- công nghệ là sự kết hợp giữa công nghệ máy tính với công nghệ viễn thông. Sự kết hợp này tạo ra kỷ nguyên thông tin.
Sự bùng nổ thông tin làm cho khối lượng thông tin phải xử lý nhiều hơn, phức tạp hơn, và đặc biệt làm thay đổi cách thức làm việc. Nhiều công việc mới được tạo ra, cách thức tổ chức quản lý và giải quyết công việc cũng thay đổi nhanh chóng. Việc phát 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com triển mạng internet cho phép tất cả mọi người có thể liên lạc với nhau một cách nhanh chóng ở tất cả mọi nơi trên toàn thế giới. Tốc độ và sự sáng tạo trở thành những yếu tố quan trọng của sự tồn tại và phát triển.
Đặc điểm thứ ba là sự thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh doanh. Quá trình toàn cầu hóa và sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật- công nghệ đã dẫn tới sự thay đổi rất nhanh chóng của môi trường kinh doanh. Hiển nhiên, để tồn tại và phát triển trong môi trường, các tổ chức phải luôn thích ứng với sự thay đổi của môi trường. Khi môi trường thay đổi nhanh, khó dự đoán hơn thì việc phân tích, kiểm sóat sự thay đổi của môi trường trở nên rất quan trọng.
Phát triển một tổ chức năng động, đủ sức thích ứng và phản ứng nhanh chóng với những thay đổi nhanh của môi trường là một trong những yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của các tổ chức kinh doanh hiện đại. Trong điều kiện môi trường thay đổi nhanh thì những kỹ năng phân tích- yếu tố quyết định của sự phát triển trong điều kiện môi trường ổn định trở nên không đủ cho sự tồn tại và phát triển. Trong điều kiện đó, sự nhạy cảm, sự sáng tạo có một ý nghĩa quyết định. Tổ chức chỉ có thể năng động, thích ứng nhanh và có hiệu quả với sự thay đổi của môi trường khi những người lao động hết lòng vì nó, làm việc với tư cách là người chủ thực sự của tổ chức và làm việc với ý thức sáng tạo cao.
Quản trị sự thay đổi chiến lược và luôn có quan điểm chiến lược trong phát triển tổ chức có một ý nghĩa lớn cho sự tồn tại và phát triển của các tổ chức hiện đại. Trước những đặc điểm lớn vừa là cơ hội vừa là thách thức sự tồn tại và phát triển của các tổ chức như trình bày ở trên, quản trị chiến lược có vai trò đặc biệt quan trọng : Trước hết, quản trị chiến lược nhằm đạt tới những mục tiêu của tổ chức. “Quản trị là đạt tới mục tiêu của tổ chức bằng và thông qua con người”. Vai trò của các mục tiêu là rất quan trọng.
Nếu không nhằm đạt tới những mục tiêu nào đó thì không cần có các nhà quản trị. Thực tiễn quản trị đã dẫn tới việc chuyên môn hóa các họat động của tổ chức. Trong điều kiện chuyên môn hóa, các nhà quản trị và người lao động ở các phòng ban, bộ phận của tổ chức 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thường có xu hướng chỉ đạt tới các mục tiêu của đơn vị mình mà không thấy các mục tiêu của toàn bộ tổ chức, và vì vậy có thể cản trở và làm tổn hại đến việc đạt tới các mục tiêu chung. Sự cộng hưởng các sức mạnh của các bộ phận và cá nhân trong tổ chức chỉ có thể đạt được khi có một quan điểm toàn diện và hệ thống trong việc xử lý các vấn đề của thực tiễn kinh doanh.
Quản trị chiến lược giúp thấy rõ các mục tiêu của tổ chức, thông qua đó lôi kéo các nhà quản trị của các cấp vào quá trình quản trị chiến lược của tổ chức, tạo ra sự cộng hưởng của tòan bộ tổ chức nhằm đạt tới các mục tiêu chung của tòan tổ chức hơn là các mục tiêu cụ thể của từng bộ phận, phòng ban.