CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC 1. Khái niệm và phân loại chiến lược 1. Khái niệm về chiến lược Theo Fred R. David[1]: Chiến lược là những phương tiện đạt tới những mục tiêu dài hạn.
Chiến lược kinh doanh có thể gồm có sự phát triển về địa lí, đa dạng hóa hoạt động, sở hữu hóa, phát triển sản phẩm, thâm nhập thị trường, cắt giảm chi tiêu, thanh lý và liên doanh. Porter[2]: Chiến lược là nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ, là sự sáng tạo ra vị thế có giá trị độc đáo bao gồm các hoạt động khác biệt. Theo Johnson và Scholes[4]: Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức về dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thỏa mãn mong đợi của các bên hữu quan. Nguyễn Thị Liên Diệp[3]: Chiến lược là chương trình hành động tổng quát hướng tới việc thực hiện mục tiêu đã đề ra.
Những định nghĩa chiến lược tuy có nhiều nhưng về cơ bản thì gồm các nội dung sau: -Xác định các mục tiêu dài hạn và cơ bản của tổ chức. -Đưa ra các chương trình hành động tổng quát. -Lựa chọn các phương án hành động, triển khai việc phân bổ các nguồn lực để thực hiện mục tiêu đó. Phân loại chiến lược 1.
Phân loại theo cấp độ chiến lược[3] -Chiến lược cấp công ty: là chiến lược tổng thể của công ty nhằm đạt được mục tiêu của công ty. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -6- -Chiến lược cấp kinh doanh: là các chiến lược bộ phận các đơn vị kinh doanh của công ty, mỗi đơn vị chiến lược bộ phận nhằm đạt được mục tiêu cho đơn vị chức năng đó và tổng các đơn vị chiến lược giúp công ty đạt được mục tiêu của công ty. -Chiến lược cấp chức năng: là chiến lược theo chức năng của công ty như chiến lược tài chính, chiến lược nguồn nhân lực, chiến lược marketing,… 1. Phân loại theo phạm vi chiến lược[3] -Chiến lược chung: Hay còn gọi là chiến lược tổng quát, đề cập đến những vấn đề quan trọng nhất, có ý nghĩa lâu dài và quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp.
-Chiến lược bộ phận: Là chiến lược cấp hai như: Chiến lược marketing, chiến lược tài chính, chiến lược giá, chiến lược phân phối, chiến lược chiêu thị… Chiến lược chung và chiến lược bộ phận liên kết chặt chẽ với nhau tạo thành một chiến lược kinh doanh hoàn chỉnh. Qui trình xây dựng chiến lược Mô hình quản trị chiến lược toàn diện của Fred David là một mô hình quản trị chiến lược toàn diện được chấp nhận rộng rãi, nó thể hiện một phương pháp rõ ràng và thực tiễn trong việc hình thành, thực thi và kiểm tra, đánh giá các chiến lược. Quá trình quản trị chiến lược có thể chia thành 3 giai đoạn chính: Giai đoạn 1: Hình thành chiến lược, gồm: Xem xét nhiệm vụ, mục tiêu và chiến lược hiện tại của doanh nghiệp, đánh giá các yếu tố bên ngoài để xác định các cơ hội và nguy cơ chủ yếu, đánh giá tình hình nội bộ để nhận diện điểm mạnh, điểm yếu, xác định lại mục tiêu doanh nghiệp, thiết lập các mục tiêu dài hạn, lựa chọn các chiến lược để theo đuổi. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -7- Giai đoạn 2: Triển khai chiến lược, gồm 3 nhiệm vụ chính: Thiết lập những mục tiêu hàng năm, đề ra chính sách, phân phối các tài nguyên cho việc thực hiện các mục tiêu chiến lược.
Giai đoạn 3: Đánh giá chiến lược, gồm việc đo lường, đánh giá thành tích đạt được so với mục tiêu đã đề ra cho từng thời kỳ, đánh giá các thay đổi vị trí chiến lược xảy ra bên ngoài, bên trong công ty, thực hiện điều chỉnh chiến lược khi có những thay đổi chính bên trong, bên ngoài công ty, hoặc khi chiến lược hiện tại không thành công. Trong thực tế, quá trình quản trị chiến lược không chia cắt, tách biệt các giai đoạn rõ ràng như trong mô hình mà thực hiện liên tục, bổ sung, hổ trợ cho nhau.1 Mô hình quản trị chiến lược toàn diện [1] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -8- Trong phạm vi của đề tài luận văn, giai đoạn 1 (Giai đoạn hình thành chiến lược) được sử dụng để làm cơ sở cho việc xây dựng chiến lược phát triển cho công ty TNHH KURABE VIỆT NAM. Qui trình xây dựng chiến lược gồm các công đoạn: Xác định sứ mạng (nhiệm vụ) và mục tiêu, phân tích môi trường bên ngoài, phân tích môi trường bên trong, xây dựng các phương án chiến lược, lựa chọn chiến lược, các giải pháp thực hiện chiến lược. Sứ mạng (nhiệm vụ) và mục tiêu[3] Sứ mạng là một phát biểu có giá trị lâu dài về mục đích, nó phân biệt doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác.
Những tuyên bố như vậy cũng có thể gọi là phát biểu của doanh nghiệp về triết lý kinh doanh, những nguyên tắc kinh doanh, những sự tin tưởng của công ty. Tất cả những điều đó xác định khu vực kinh doanh của doanh nghiệp, cụ thể là loại sản phẩm, dịch vụ cơ bản, những nhóm khách hàng cơ bản, nhu cầu thị trường, lãnh vực kỹ thuật hoặc là sự phối hợp những lãnh vực này. Sứ mạng chứa đựng tổng quát thành tích mong ước tuyên bố với bên ngoài công ty như là một hình ảnh công khai mà doanh nghiệp mong ước. Mục tiêu được định nghĩa là những kết quả kinh doanh mà doanh nghiệp muốn đạt tới.
Mặc dù những mục tiêu xuất phát từ sứ mạng, mục tiêu được riêng biệt và cụ thể hơn. Có hai loại mục tiêu, mục tiêu dài hạn và ngắn hạn, được phân biệt nhau bởi một số năm. Mục tiêu ngắn hạn phải hoàn thành trong vòng một năm. Lâu hơn thế là mục tiêu dài hạn.
Mục tiêu chính là cái đích mà một doanh nghiệp sẽ hướng đến, nó chính là cơ sở quan trọng để xây dựng chiến lược kinh doanh. Sứ mạng của doanh nghiệp mang tính tổng quát, mục tiêu là cụ thể hóa sứ mạng của doanh nghiệp. Mục tiêu được xây dựng trên cơ sở sứ mạng của doanh nghiệp và các yếu tố môi trường bên trong, bên ngoài doanh nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -9- Mục tiêu phải phù hợp với các điều kiện cả khách quan và chủ quan tác động đến doanh nghiệp.
Phân tích môi trường bên ngoài[3] Phân tích các yếu tố môi trường bên ngoài nhằm tìm ra những cơ hội và nguy cơ từ môi trường kinh doanh mà doanh nghiệp đang phải đối mặt. Kết quả phân tích môi trường bên ngoài sẽ tìm ra được những yếu tố mà doanh nghiệp không thể kiểm soát được, nhưng lại rất ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp. Phân tích môi trường ngoài giúp nhà quản trị hoạch định chiến lược tránh hay giảm bớt các yếu tố nguy cơ, hay để tận dụng các cơ hội. Môi trường ngoài bao gồm môi trường vĩ mô và môi trường vi mô.
Môi trường vĩ mô Môi trường vĩ mô là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến việc đề ra chiến lược của các nhà quản trị. Môi trường vĩ mô chứa đựng cơ hội và nguy cơ đối với doanh nghiệp. -Yếu tố kinh tế Các yếu tố kinh tế chủ yếu ảnh hưởng đến doanh nghiệp là chu kì kinh tế, lãi suất, tỉ lệ lạm phát, cán cân thanh toán, tỉ giá hối đoái, chính sách tài chính và tiền tệ. Các yếu tố kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến sức thu hút tiềm năng của các chiến lược khác nhau của doanh nghiệp.
-Yếu tố chính trị, luật pháp Các yếu tố chính trị, luật pháp bao gồm hệ thống các quan điểm, đường lối chính sách của chính phủ, hệ thống pháp luật và sự ổn định của hệ thống pháp luật nói chung và các luật liên quan đến kinh doanh, chính sách thuế, bảo hộ mậu dịch, bảo vệ quyền kinh doanh hợp pháp, luật chống độc quyền, các xu hướng chính trị ngoại giao của quốc gia, những diễn biến chính trị trong nước, khu vực và thế giới. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 10 - -Yếu tố văn hóa- xã hội Yếu tố văn hóa- xã hội bao gồm những chuẩn mực và giá trị được chấp nhận và tôn trọng, bao gồm các yếu tố như vai trò của nữ giới, chất lượng cuộc sống, các chuẩn mực đạo đức, phong cách sống, truyền thống văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo. Những biến đổi về văn hóa xã hội và đặc điểm của nó thường chậm và khó nhận biết nhưng cũng có thể tạo ra các cơ hội, nguy cơ đối với doanh nghiệp. -Yếu tố dân số- lao động Các yếu tố dân số- lao động như tổng số dân, tỉ lệ tăng dân số, kết cấu và xu hướng thay đổi dân số về tuổi tác, giới tính, dân tộc, nghề nghiệp, trình độ dân trí, phân phối thu nhập, tuổi thọ, tỉ lệ sinh tự nhiên, xu hướng dịch chuyển dân số giữa các vùng, cũng có thể tạo ra các cơ hội, nguy cơ cho doanh nghiệp.
Các yếu tố trên rất quan trọng trong vấn đề hoạch định chiến lược của doanh nghiệp. -Yếu tố tự nhiên Các yếu tố tự nhiên như là các vấn đề về điều kiện địa lí, nguồn năng lượng, tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản, các chính sách của Nhà nước về bảo vệ môi trường và tài nguyên. Ngoài ra các vấn đề như thiên tai, bão lụt, dịch bệnh cũng rất cần được xem xét việc xác định và quyết định chiến lược kinh doanh. -Yếu tố công nghệ Yếu tố công nghệ là một trong những yếu tố năng động, mang lại nhiều cơ hội và nguy cơ đối với doanh nghiệp.
Các yếu tố như kĩ thuật nghiên cứu và phát triển, bản quyền công nghệ, khuynh hướng tự động hóa, chuyển giao công nghệ, sử dụng robot trong sản xuất và tự động hóa các quá trình sản xuất, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ…rất quan trọng trong xác định, thiết lập chiến lược của doanh nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 11 - Sự ra đời của công nghệ mới làm xuất hiện và tăng cường ưu thế cạnh tranh của các sản phẩm thay thế, đe dọa các sản phẩm truyền thống. Sự bùng nổ công nghệ mới làm cho công nghệ hiện hữu bị lỗi thời và tạo ra áp lực đòi hỏi các doanh nghiệp phải đối mặt với công nghệ để tăng cường khả năng cạnh tranh. Sự ra đời của công nghệ mới càng tạo nhiều thuận lợi cho sự xâm nhập mới và làm tăng thêm áp lực cạnh tranh lên các doanh nghiệp trong ngành.