CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 1. Các khái niệm cơ bản về chiến lược kinh doanh 1. Khái niệm về chiến lược kinh doanh Ngày nay, các tổ chức kinh doanh cũng áp dụng các chiến lược tương tự như trong lực lượng vũ trang. Chiến lược là một công việc bổ sung và sử dụng các nguồn lực của tổ chức như con người, tài sản và vốn được thiết kế để tăng cường sức mạnh và bảo vệ lợi ích cơ bản của tổ chức.
Hiện nay có nhiều quan điểm và giải pháp về chiến lược kinh doanh như sau: Theo quan điểm của Kenneth, Kenneth Andrews là người đã đưa ra những ý tưởng hay nhất trong cuốn sách nổi tiếng Khái niệm về chiến lược doanh nghiệp. Ông tin rằng chiến lược là những hành động mà tổ chức phải thực hiện dựa trên điểm mạnh và điểm yếu của mình khi đối mặt với các cơ hội và mối đe dọa móc (Kenneth, 2010). Theo Bruce Henderson (2009), chiến lược gia và người sáng lập Tập đoàn tư vấn Boston, ông đã liên kết khái niệm chiến lược với lợi thế cạnh tranh. Lợi thế thế cạnh tranh mang lại khả năng của một công ty ở vị trí thuận lợi hơn so với đối thủ cạnh tranh, từ đó làm tăng lợi ích kinh tế cho khách hàng.
Quinn (1990) viết: "Chiến lược là tìm kiếm ý thức các kế hoạch có thể thúc đẩy phát triển và tối ưu hóa lợi thế cạnh tranh của một tổ chức. Điều kiện khác biệt với cạnh tranh chính là nền tảng platform cho lợi ích của bạn". Quinn tin rằng nếu hoạt động kinh doanh của họ có cách tiếp cận hoàn toàn khác. Để tồn tại, phải thực hiện những thay đổi này.
Michael Porter đồng ý với Quinn: "Chiến lược tranh cạnh quan đến sự khác biệt. Đó là sự lựa chọn cẩn thận các phương án hành động khác biệt để tạo ra một tập hợp giá trị duy nhất." Theo cách tiếp cận truyền thông tiếp theo, chiến lược nên được xem như một chiến lược lược dài hạn để tổ chức đạt được các mục tiêu dài hạn của mình. Nhà sử học quản lý Alfred D. Chandler (2011) tin rằng “chiến lược là việc xác định các cơ sở giới hạn dài hạn của các mục tiêu của doanh nghiệp và kế hoạch hành động nhắm tới sự hợp lý về nguồn lực bổ sung để đạt được các mục tiêu này ”.
Vì vậy, ông duy nhất cho rằng chiến lược là một kế hoạch dài hạn được thiết lập trong đó doanh nghiệp xác định các mục tiêu chiến lược và xây dựng các kế hoạch hành động để đạt được các mục tiêu 2 này một cách tốt tốt nhất, đồng thời xác định các phương pháp phân bổ nguồn lực tương ứng. Ưu điểm của cách tiếp cận truyền thông tiếp theo là giúp doanh nghiệp hình thành những công việc cần làm để hoàn thành chiến lược và mang lại lợi ích cho việc coi chiến lược là một kế hoạch dài hạn.Tuy nhiên, trong môi trường kinh doanh nhiều biến động như ngày nay cho thấy rõ ràng khuyết điểm của cách tiếp cận truyền thống là nó không có khả năng thích nghi kịp với sự thay đổi của môi trường kinh doanh. Trong cách tiếp cận mới, chiến lược có thể mở rộng hơn những gì doanh nghiệp dự kiến hoặc dự định thực hiện. Theo Mintzberg (1994), chiến lược là một mẫu mẫu trong quá trình được quyết định và lập kế hoạch hành động.
Mô hình này có thể là bất kỳ loại chiến lược nào: chiến lược dài hạn hoặc chiến lược mới. Ông cho rằng: Các phương pháp hiện đại có thể giúp công việc nhanh chóng phù hợp với những thay đổi của môi trường kinh doanh và phát huy khả năng sáng tạo của mọi người trong công ty. Nhưng nó đòi hỏi người lãnh đạo, nhà quản lý phải có trình độ, năng lực đánh giá những khó khăn khi thực hiện chiến lược và đánh giá kết quả hiệu quả của doanh thu chiến lược kinh doanh. Vai trò chiến lược kinh doanh Chiến lược kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng trong việc duy trì sự phát triển của mỗi doanh nghiệp, mỗi ngành nghề.
Chiến lược kinh doanh đúng đắn sẽ tạo ra hướng đi đúng đắn, có thể coi như kim chỉ nam dẫn đường. Trong thực tế, có rất nhiều nhà kinh doanh nhờ có Chiến lược kinh doanh đúng đắn đã đạt được nhiều thành công, vượt qua đối thủ cạnh tranh và tạo chỗ đứng cho mình trên thị trường(Hồ Đức Hùng, 2000). - Chiến lược kinh doanh sẽ giúp doanh nghiệp có thể xác định được định hướng của doanh nghiệp mình về các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai thông qua việc đánh giá và dự đoán nhu cầu hoạt động kinh doanh. Kinh doanh là một hoạt động liên tục bị ảnh hưởng bởi các yếu tố ngoại vi và nội tại.
Chiến lược kinh doanh giúp doanh nghiệp linh hoạt và tự chủ để thích ứng với biến động của thị trường, đồng thời đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp theo hướng đúng. Điều đó có thể giúp cho các doanh nghiệp trở nên phấn đấu đạt được thành công và nâng cao vị 3 thế của doanh nghiệp trên thương trường. - Chiến lược kinh doanh giúp cho doanh nghiệp nắm bắt được các cơ hội cũng như hạn chế các rủi ro trong việc khai thác nguồn lực của doanh nghiệp.Nó giúp doanh nghiệp huy động và sử dụng hợp lý các nguồn lực, tăng cường sức mạnh của doanh nghiệp. - Chiến lược kinh doanh tạo ra một mạng lưới liên kết giữa các doanh nghiệp, hướng tới việc kết nối nhân viên với các doanh nghiệp khác để đạt được mục tiêu chung và phát triển cùng nhau.
Điều này thúc đẩy sự liên kết chặt chẽ giữa nhân viên và giữa lãnh đạo với nhân viên, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. - Chiến lược kinh doanh là phương thức cạnh tranh hiệu quả của các doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế ngày nay tạo ra sự ảnh hưởng và phụ thuộc đan xen giữa các doanh nghiệp. Điều này dẫn đến cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp trên thị trường, không chỉ dựa vào yếu tố giá cả, chất lượng, quảng cáo hay marketing mà còn sử dụng chiến lược kinh doanh như một công cụ cạnh tranh hiệu quả. Phân loại các cấp chiến lược kinh doanh Theo Fred R.
David (2009) tùy vào cơ cấu tổ chức của các doanh doanh nghiệp mà nó có cấp chiến lược khác nhau, chiến lược xây dựng nhằm mục tiêu là sẽ nâng cao hay đảm bảo vị thế của doanh nghiệp trên thị trường. Có 3 cấp chiến lược chính: - Chiến lược doanh nghiệp là kế hoạch hướng dẫn hoạt động của doanh nghiệp, được Nhà nước và doanh nghiệp cùng tham gia để phân chia nguồn lực và đạt được mục tiêu chung. Đây là tuyên bố về mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp, định hướng cho các hoạt động của họ. - Chiến lược kinh doanh là việc mở rộng lĩnh vực kinh doanh và ngành nghề cụ thể, bằng cách áp dụng năng lực cốt lõi để tạo lợi thế cạnh tranh.
Chỉ khi doanh nghiệp liên tục phát triển lợi thế cạnh tranh của mình theo thời gian mới có thể đạt được thành công dài hạn với chiến lược kinh doanh cấp đơn vị. - Chiến lược chức năng là kế hoạch hỗ trợ cho các hoạt động chức năng của doanh nghiệp, như chiến lược nhân sự và chiến lược marketing. Đây là những chiến lược liên quan đến các hoạt động cụ thể để hỗ trợ chiến lược kinh doanh cấp doanh nghiệp và cấp 4 đơn vị kinh doanh. Chiến lược này xác định mục tiêu và phương thức hành động ngắn hạn, để đạt được mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp.Chiến lược chức năng giải quyết hai vấn đề có liên quan giữa lĩnh vực chức năng: Thứ nhất, là kết nối giữa lĩnh vực chức năng và môi trường tác nghiệp.
Thứ hai, là sự kết nối với các lĩnh vực chức năng có liên quan. Quy trình ra chiến lược kinh doanh Hình 1. 1: Quy trình ra chiến lược Nguồn: (David,2011) 1. Xác định tầm nhìn của doanh nghiệp Điều đặc biệt quan trọng của một doanh nghiệp là thống nhất về tầm nhìn cơ bản mà đơn vị có thể phấn đấu dài hạn.Một tuyên bố tầm nhìn cần phải trả lời được câu hỏi là “Chúng ta muốn trở thành gì?”.
Tầm nhìn phải rõ ràng thì sẽ tạo nên một nền tảng cho việc phát triển tuyên bố sứ mạng toàn diện. Một kế hoạch mang tính chiến lược bắt đầu với một sứ mệnh kinh doanh đã được xác định một cách rõ ràng “Lĩnh vực kinh doanh đang hướng đến là gì?”.Theo Mintzberg định nghĩa về sứ mệnh như sau: “Một sứ mệnh cho biết chức năng cơ bản của một tổ 5 chức trong xã hội xét theo khía cạnh hàng hóa và dịch vụ tổ chức đó sản xuất ra nhằm phục vụ cho đối tượng khách hàng của nó”. Tầm nhìn-sứ mệnh là thông điệp thể hiện những giá trị cốt lõi của doanh nghiệp. Nó diễn đạt những điều cốt lõi, những cống hiến của doanh nghiệp trên phương diện kinh doanh lẫn đời sống; nói lên triết lý kinh doanh của doanh nghiệp, chỗ đứng của doanh nghiệp trên thị trường và những điều doanh nghiệp cam kết sẽ thực hiện.
Phát biểu tầm nhìn-sứ mệnh cần phải súc tích nhưng bao hàm đầy đủ ý nghĩa nền tảng, cần mang tính động viên và thể hiện sự ổn định lâu dài (Nguyễn Thị Liên Diệp, Phạm Văn Nam, 2003). Các công cụ phân tích 1. Phân tích môi trường bên ngoài Hình 1. 2: Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài Nguồn: David, 2011 Môi trường bên ngoài là môi trường bao phủ lên hoạt động của tổ chức, có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên hoạt động của toàn bộ tổ chức.
Nó được xác 6 định bằng các nhân tố: các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, thiên nhiên, con người và khoa học công nghệ. Môi trường vi mô có ảnh hưởng lớn đối với từng doanh nghiệp. Doanh nghiệp khó có thể ảnh hưởng hoặc kiểm soát được nó – khó có thể kiểm soát được nó, hoặc phụ thuộc vào nó. Mức độ tác động và tính chất tác động của loại môi trường này khác nhau theo từng ngành, theo từng doanh nghiệp, hoặc khác nhau theo tính chất công việc của mỗi doanh nghiệp.
Cụ thể (Cường và Chương, 2019): Môi trường kinh tế: là yếu tố đặc biệt quan trọng lôi cuốn sự quan tâm của toàn bộ các nhà quản trị và ảnh hưởng lớn lên các chiến lược kinh doanh.