CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH 9 Ngô Việt Thanh - Luận văn Thạc sỹ Hoạch định chiến lược kinh doanh dịch vụ sinh hoạt dầu khí 1.1 Khái niệm về chiến lược Thuật ngữ “chiến lược” được dùng trước tiên trong lĩnh vực quân sự : Chiến lược là nghệ thuật chỉ huy cao cấp nhằm xoay chuyển tình thế, biến đổi tình trạng so sánh lực lượng quân sự trên chiến trường từ yếu thành mạnh, từ bị động sang chủ động để giành chiến thắng. Nói cách khác, trong lĩnh vực quân sự thuật ngữ chiến lược nói chung được quan niệm như một nghệ thuật chỉ huy của bộ phận tham mưu cao nhất nhằm giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh, nó mang tính nghệ thuật nhiều hơn tính khoa học. Trong thực tế, những gì mà các nhà chiến lược quân sự học tập và tích lũy qua nhiều thế kỷ đã giúp ích rất nhiều cho các nhà chiến lược kinh tế ngày nay. Các lý thu- yết chiến lược quân sự tích lũy theo thời gian đã trở nên quen thuộc và trở thành kim chỉ nam đối với các nhà chiến lược kinh tế.
Vì mâu thuẫn quân sự và mâu thuẫn trong cạnh tranh kinh tế rất giống nhau, nên nhiều chiến lược được áp dụng chung cho cả hai lĩnh vực. Từ giữa thế kỷ XX, thuật ngữ chiến lược đã được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực kinh tế ở cả bình diện vĩ mô cũng như vi mô. Ở bình diện quản lý vĩ mô, chiến lược dùng để chỉ những kế hoạch phát triển dài hạn, toàn diện, cơ bản về những định hướng của ngành, lĩnh vực hay vùng lãnh thổ. Đó là những chiến lược phát triển thuộc quán lý vĩ mô.
Ở bình diện quản lý vi mô, các chiến lược cũng nhằm tới sự phát triển nhưng gắn chặt với ý nghĩa kinh doanh. Cho nên ở các doanh nghiệp, người ta thường nói đến ‘chiến lược kinh doanh’ của doanh nghiệp. Trong kinh doanh, nguồn lực của doanh nghiệp bao giờ cũng hữu hạn, môi trường kinh doanh lại luôn biến động, trong lúc đó một doanh nghiệp lại phải đối mặt với nhiều nhà cạnh tranh. Kinh doanh trên thương trường cũng chẳng khác gì chiến đấu trên chiến trường.
Vì thế, nghệ thuật điều hành kinh doanh ở nhiều khía cạnh nào đó tương tự như trong quân sự. Từ đó có những quan niệm về chiến lược kinh doanh như sau : 10 Ngô Việt Thanh - Luận văn Thạc sỹ Hoạch định chiến lược kinh doanh dịch vụ sinh hoạt dầu khí - Theo Micheal E. Porter : “ Chiến lược kinh doanh là một nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh để phòng thủ” - Theo K. Ohmae : “Mục đích của chiến lược là mang lại những điều thuận lợi nhất cho mọi phía, đánh giá thời điểm tấn công hay rút lui, xác định đúng ranh giới của sự thỏa hiệp” và ông nhấn mạnh ; “không có đối thủ cạnh tranh thì không cần chiến lược, mục đích duy nhất của chiến lược là đảm bảo giành thắng lợi bền vững đối với đối thủ cạnh tranh” - Theo James B.
Quinn : “Chiến lược là một dạng thức hoặc một kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và các trình tự hành động thành một tổng thể kết dính với nhau” - Theo William J. Guech : “Chiến lược là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp, được thiết kế để đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của một ngành sẽ được thực hiện”. - Theo Alfred Chandler : “Chiến lược bao hàm việc ấn định các mục tiêu cơ bản dài hạn của ngành, đồng thời lựa chọn cách thức hoặc tiến trình hành động và phân bổ các tài nguyên thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó”. Như vậy, có rất nhiều quan niệm về chiến lược và các quan niệm không hoàn toàn giống nhau, không đồng nhất.
Tuy nhiên, tác giả tâm đắc nhất với khái niệm của Mi- cheal Porter, rất ngắn gọn và hàm chứa nhiều ý nghĩa trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt hiện nay.2 Quy trình hoạch định chiến lược Quy trình hoạch định chiến lược bao gồm hai bước : Bước 1 : Phân tích các căn cứ để hình thành chiến lược Bước 2 : Hình thành chiến lược cho giai đoạn hoạch định. Trước khi hoạch định chiến lược kinh doanh, nhà quản trị phải tiến hành một loạt các phân tích giúp cho chiến lược hình thành có căn cứ khoa học. Các vấn đề cần phải phân tích để làm căn cứ cho kế hoạch hóa chiến lược gồm : phân tích mội trường vĩ mô, phân tích môi trường ngành và phân tích nội bộ doanh nghiệp. Ta có thể khái quát các căn cứ để xây dựng chiến lược kinh doanh ở hình 1.
11 Ngô Việt Thanh - Luận văn Thạc sỹ Hoạch định chiến lược kinh doanh dịch vụ sinh hoạt dầu khí Hình 1.1 : Những căn cứ để xây dựng chiến lược kinh doanh Môi trường vĩ mô Môi trường ngành Yếu tố xã hội và Yếu tố Đối thủ cạnh tranh kinh tế tự nhiên Yếu tố nội bộ DN Nhà Sản cung phẩm cấp thay - Nguồn nhân lực thế - Nghiên cứu và phát triển - Tài chính – kế toán Khách Yếu tố Yếu tố hàng công nghệ Chính - Marketing phủ và - Văn hóa DN chính trị Đối thủ tiềm ẩn Yếu tố luật pháp, chính sách Sự phân tích trên và trực giác là cơ sở để đưa ra những quyết định về việc hình thành chiến lược. Căn cứ để hình thành chiến lược gồm : 1- Phân tích SWOT (phân tích môi trường và nội bộ doanh nghiệp) 2- Định hướng phát triển doanh nghiệp (hoặc tổ chức) Các bước hình thành chiến lược bao gồm : 1- Hình thành mục tiêu chiến lược tổng quát trong thời kỳ hoạch định 2- Hình thành chiến lược bộ phận bằng việc lập ma trận SWOT 3- Vạch ra giải pháp (hướng đi) để thực hiện chiến lược bộ phận. Đề xuất biện pháp (kế hoạch triển khai cụ thể) để thực hiện giải pháp. 12 Ngô Việt Thanh - Luận văn Thạc sỹ Hoạch định chiến lược kinh doanh dịch vụ sinh hoạt dầu khí 4- Biện pháp triển khai cụ thể bao gồm : 1) Nội dung công việc phải làm để triển khai giải pháp 2) Phân công trách nhiệm cụ thể người chỉ đạo, người thực hiện 3) Chỉ ra kinh phí phải bỏ thêm cho việc thực hiện biện pháp và nguồn vốn 4) Chỉ ra tiến độ thời gian thực thi biện pháp 5) Tính toán kết quả mong đợi sau khi áp dụng biện pháp 6) Sơ bộ dự tính hiệu quả kinh tế khi áp dụng biện pháp, bằng việc tính hệ số hiệu quả của vốn đầu tư thêm hoặc chi phí bỏ ra thêm cho biện pháp (E) Lợi nhuận tăng thêm sau áp dụng biện pháp E= Vốn bỏ thêm (chi phí thêm cho biện pháp) 1.3 Nội dung phải phân tích làm căn cứ để hình thành chiến lược 1.1 Phân tích môi trường vĩ mô Việc phân tích môi trường vĩ mô giúp doanh nghiệp trả lời cho câu hỏi : Doanh nghiệp đang đối diện với những vấn đề gì? Cơ hội và đe dọa cho công việc kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai là gì? Các nhà quản trị chiến lược của các doanh nghiệp thường chọn 5 yếu tố thuộc môi trường vĩ mô sau đây để phân tích trước khi vạch ra chiến lược kinh doanh : Môi trường kinh tế Yếu tố Chính phủ và chính trị Yếu tố luật pháp – chính sách Yếu tố xã hội và tự nhiên Yếu tố công nghệ Để phân tích một cách khoa học và đạt được mục tiêu phân tích, quy trình phân tích mỗi yếu tố của môi trường vĩ mô phải được tiến hành theo trình tự sau đây : 1) Mô tả thực trạng về vấn đề phân tích 2) Nhận xét thực trạng đó ảnh hưởng gì đến nền kinh tế, đến ngành kinh tế kỹ 13 Ngô Việt Thanh - Luận văn Thạc sỹ Hoạch định chiến lược kinh doanh dịch vụ sinh hoạt dầu khí thuật liên quan đến doanh nghiệp hoặc tổ chức 3) Phân tích sự ảnh hưởng của hiện trạng đó đến tổ chức hay doanh nghiệp của mình : nó tạo ra cơ hội phát triển hay nguy cơ đe dọa doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả 1.1 Phân tích môi trường kinh tế Các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng vô cùng lớn đến các doanh nghiệp trên mọi mặt hoạt động sản xuất kinh doanh, bao gồm tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát, lãi suất ngân hàng, tỷ giá hối đoái, chỉ số chứng khoán, tỷ lệ thất nghiệp, việc làm, đầu tư nước ngoài.
Mỗi yếu tố kinh tế nói trên đều có thể là cơ hội hoặc nguy cơ cho doanh nghiệp. Việc phân tích các yếu tố của môi trường kinh tế giúp cho các nhà quản lý tiến hành các dự báo và đưa ra kết luận về những xu thế chính của sự biến đổi môi trường tương lai, là cơ sở cho việc hình thành chiến lược kinh doanh. GDP tăng trưởng tốt là cơ hội cho tất cả các tổ chức. Tỷ giá hối đoái thay đổi là cơ hội tốt cho doanh nghiệp này nhưng lại là nguy cơ hoặc khó khăn cho doanh nghiệp khác.
Chẳng hạn tỷ giá USD/VNĐ tăng mạnh trên thị trường tự do vào tháng 1, 2 năm 2009 là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp xuất khẩu nhưng lại là nguy cơ cho nhiều do- anh nghiệp khác phải nhập khẩu nguyên vật liệu bằng USD. Nên có thể nói tỷ giá tăng là nguy cơ cho doanh nghiệp này, nhưng lại là cơ hội tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp khác và có khi tỷ giá tăng mà không ảnh hưởng gì tới nhiều tổ chức, chẳng hạn như với các trường đại học thì tỷ giá tăng giảm hầu như không ảnh hưởng đến chiến lược của họ. Chỉ số giá chứng khoán giảm là nguy cơ cho công ty cổ phần, cho nhà đầu tư này nhưng lại là cơ hội cho nhà đầu tư khác vì đúng thời điểm họ chọn mua vào thì giá cổ phiếu xuống thấp. Tỷ lệ thất nghiệp lao động phổ thông tăng không là cơ hội cho doanh nghiệp công nghệ cao vì nơi đó cần lao động có tay nghề cao hoặc kỹ sư, nhà quản trị có trình độ chuyên môn, nhưng lại là cơ hội cho doanh nghiệp sản xuất theo mùa vụ hoặc các do- anh nghiệp cần nhiều lao động phổ thông.
Đầu tư nước ngoài tăng vào lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng là cơ hội tốt cho phát triển kinh tế đất nước. Nhưng đầu tư vào sản xuất công nghiệp lại làm tăng sự cạnh 14 Ngô Việt Thanh - Luận văn Thạc sỹ Hoạch định chiến lược kinh doanh dịch vụ sinh hoạt dầu khí tranh với doanh nghiệp sản xuất trong nước, là nguy cơ cho các doanh nghiệp cùng ngành sản xuất đó.