CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH 1.1 Khái niệm về chiến lược kinh doanh Thuật ngữ chiến lược ngày nay được sử dụng rất rộng rãi trong kinh doanh. Chiến lược được định nghĩa theo nhiều cách bởi một số tác giả điển hình như sau: - Chiến lược bao hàm việc thiết lập các mục tiêu cơ bản, dài hạn của doanh nghiệp, đồng thời lựa chọn cách thức, chương trình hành động và phân bổ các nguồn lực thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó (Alfred Chandler- 1962) - Chiến lược là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp, được thiết kế để đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp sẽ dược thực hiện (William F. Glueck- 1972) - Chiến lược bao hàm phương hướng và phạm vi hoạt động của một tổ chức trong dài hạn nhằm đạt được những lợi thế thông qua việc phân bổ các nguồn lực trong một môi trường luôn biến đổi và đáp ứng được các kỳ vọng của cổ đông (Johnson and Scholes- 2002) Dù được nhìn nhận và diễn đạt dưới nhiều góc nhìn cũng như quan điểm khác nhau nhưng chiến lược kinh doanh nhìn chung bao hàm các nội dung cơ bản sau: - Các mục tiêu: Chiến lược luôn luôn xác định các mục tiêu dài hạn mà mọi hoạt động và nỗ lực trong tổ chức cần phải hướng tới.
Chiến lược là phương hướng, là kim chỉ nam cho hoạt động của một công ty - Phạm vi: Chiến lược xác định rõ các phạm vi và giới hạn của nó, ví dụ như loại sản phẩm mà công ty sản xuất, phân khúc thị trường mà công ty theo đuổi, lĩnh vực mà công ty sẽ hoạt động… - Lợi thế cạnh tranh: Chiến lược luôn bao hàm những tuyên bố rõ ràng về các lợi thế cạnh tranh mà công ty sẽ theo đuổi, củng cố và duy trì. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 - Sự logic: Chiến lược kết nối các mục tiêu, chương trình hành động và kết quả đạt được một cách khoa học, có thứ tự và hợp lý.2 Khái niệm xây dựng chiến lược Xây dựng chiến lược là giai đoạn đầu tiên, đặt nền tảng và đóng vai trò hết sức quan trọng trong toàn bộ quá trình quản trị chiến lược. Trong giai đoạn này, doanh nghiệp cần xác định tầm nhìn, sứ mạng, các mục tiêu chiến lược của tổ chức, và trên cơ sở đó thiết lập chiến lược, chính sách kinh doanh, quyết định ngành kinh doanh (thị trường, mặt hàng,…) mới nào nên tham gia, ngành nào nên rút ra, nên mở rộng hay thu hẹp hoạt động kinh doanh… Hoạch định chiến lược bao hàm việc phân tích vị thế hiện tại, dự báo tương lai, chọn lựa và xây dựng những chiến lược phù hợp. Nguyên tắc cơ bản trong xây dựng chiến lược là hy vọng cho những điều tốt nhất, và lên kế hoạch cho những điều tồi tệ nhất.2 Vai trò của chiến lược kinh doanh Chiến lược kinh doanh đóng vai trò như một định hướng chung cho toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp.
Nó giúp cho nhà quản trị nhận thức rõ những kết quả mong muốn đạt tới trong từng thời kỳ, cũng như cách thức sử dụng, phân bổ tối ưu nguồn tài nguyên hiện có, chủ động ứng phó với những thay đổi của môi trường. Chiến lược kinh doanh được công bố góp phần giúp mọi thành viên của doanh nghiệp thấy rõ được tầm nhìn, sứ mạng, các mục tiêu của tổ chức, từ đó thu hút mọi người vào quá trình quản trị chiến lược, thống nhất hành động, tập trung sức mạnh để thực hiện tốt các mục tiêu chung. Chiến lược kinh doanh là cơ sở để doanh nghiệp đưa ra các quyết định thống nhất trong việc lựa chọn phương án đầu tư, kinh doanh, đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường… TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 Phân loại chiến lược kinh doanh 1.1 Căn cứ vào phạm vi của chiến lược: Có hai loại: - Chiến lược chung hay còn gọi là chiến lược tổng quát. Chiến lược chung của doanh nghiệp thường đề cập tới những vấn đề quan trọng nhất, bao trùm nhất và có ý nghĩa lâu dài.
Chiến lược chung quyết định những vấn đề sống còn của doanh nghiệp. - Chiến lược bộ phận, bao gồm: Chiến lược sản phẩm; chiến lược giá; chiến lược phân phối; chiến lược chiêu thị.2 Căn cứ vào hướng tiếp cận chiến lược Có bốn loại - Chiến lược tập trung vào những nhân tố then chốt: Không dàn trải các nguồn lực, cần tập trung cho những nhân tố, hoạt động có ý nghĩa quyết định đối với sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Chiến lược dựa trên ưu thế tương đối: Phân tích, so sánh sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh. Thông qua sự phân tích đó, tìm ra điểm mạnh của mình làm chỗ dựa cho chiến lược kinh doanh.
- Chiến lược sáng tạo tấn công: Việc xây dựng chiến lược được tiếp cận theo cách cơ bản là luôn luôn nhìn thẳng vào những vấn đề vẫn được coi là phổ biến, khó làm khác đi để đặt câu hỏi “Tại sao”, nhằm xét lại những điều tưởng như đã kết luận. Từ việc đặt liên tiếp các câu hỏi và nghi ngờ sự bất biến của vấn đề, có thể đạt được những khám phá mới làm cơ sở cho chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp mình. - Chiến lược khai thác các mức độ tự do: Tập trung khai thác khả năng có thể có của các nhân tố bao quanh nhân tố then chốt.3 Căn cứ vào cấp chiến lược - Chiến lược cấp công ty: Chiến lược cấp công ty bao hàm định hướng chung của công ty về vấn đề tăng trưởng, quản lý các đơn vị thành viên, phân bổ nguồn lực tài chính TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 và các nguồn lực khác giữa những đơn vị thành viên này; xác định một cơ cấu mong muốn của sản phẩm, dịch vụ, các lĩnh vực kinh doanh mà doanh nghiệp tham gia kinh doanh; xác định ngành kinh doanh (hoặc các ngành kinh doanh) mà doanh nghiệp đang hoặc sẽ phải tiến hành, mỗi ngành cần được kinh doanh như thế nào… - Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh: Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh tập trung vào việc cải thiện vị thế cạnh tranh của các sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp trong ngành kinh doanh hoặc là một kết hợp sản phẩm thị trường mà doanh nghiệp tham gia kinh doanh. Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh bao gồm chủ đề cạnh tranh mà doanh nghiệp lựa chọn để nhấn mạnh, cách thức mà nó tự định vị vào thị trường để đạt lợi thế cạnh tranh và các chiến lược định vị khác nhau có thể sử dụng trong bối cảnh khác nhau của mỗi ngành.
- Chiến lược chức năng: Tập trung vào việc quản lý và sử dụng một cách có hiệu quả nhất các nguồn lực của doanh nghiệp và của mỗi đơn vị thành viên. Các chiến lược chức năng được phát triển nhằm thực hiện thành công chiến lược cấp đơn vị kinh doanh và từ đó thực hiện thành công chiến lược cấp doanh nghiệp.4 Quy trình xây dựng chiến lược Các kỹ thuật quan trọng để hình thành một chiến lược có thể được nêu thành một quy trình ra quyết định gồm 3 giai đoạn. Các công cụ được sử dụng cho quy trình này có thể áp dụng được cho tất cả các quy mô và loại tổ chức và có thể giúp cho các nhà quản trị chiến lược xác định, đánh giá và lựa chọn các chiến lược.1 Giai đoạn nghiên cứu Đây là giai đoạn thu thập, tóm tắt các thông tin cơ bản đầu vào cần thiết cho quá trình hình thành chiến lược. Trong giai đoạn này ta sử dụng ba công cụ : ma trận đánh giá các yếu tố bên trong, ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài và ma trận hình ảnh cạnh tranh.2 Giai đoạn xây dựng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Giai đoạn này tập trung vào việc đưa ra các chiến lược khả thi có thể lựa bằng cách sắp xếp, phối hợp một số những yếu tố quan trọng về cơ hội, nguy cơ bên ngoài, điểm mạnh và điểm yếu bên trong.
Có nhiều công cụ ma trận được sử dụng trong giai đoạn kết hợp, nhưng phổ biến nhất là công cụ ma trận SWOT. Ma trận này sử dụng thông tin được rút ra từ giai đoạn nghiên cứu.3 Giai đoạn lựa chọn Dựa vào công cụ ma trận QSPM, đánh giá được tính hấp dẫn của các chiến lược khả thi có thể thay thế (hình thành trong giai đoạn xây dựng). Doanh nghiệp có thể lựa chọn những chiến lược hấp dẫn nhất, kết hợp những chiến lược có số điểm cao với nhau để hình thành những chiến lược phù hợp với điều kiện của mình.5 Phân tích và dự báo môi trường kinh doanh 1.1 Phân tích môi trường bên trong 1.1 Chuỗi giá trị Chuỗi giá trị là tổng hợp các hoạt động có liên quan của doanh nghiệp làm tăng giá trị cho khách hàng. Việc thực hiện có hiệu quả các hoạt động trong chuỗi giá trị sẽ quyết định hiệu quả hoạt động chung và tạo ra những lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
Ý nghĩa phân tích chuỗi: -Xác định được những điểm mạnh, điểm yếu trong hoạt động hiện tại của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp lựa chọn được lĩnh vực đầu tư, chớp được thời cơ. -Xác định được lợi thế cạnh tranh-Làm tăng giá trị cho khách hàng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 -Làm tăng hiệu quả hoạt động chung, nhờ có cơ sở lựa chọn chiến lược, lĩnh vực đầu tư và tổ chức thực hiện.Trong phân tích dây chuyền giá trị, các hoạt động của công ty được chia thành 2 nhóm: các hoạt động chủ yếu, các hoạt động hỗ trợ.1 Mô hình chuỗi giá trị của Michael E. Porter (Nguồn: Michael E. New York: Free Press, 1985) Các hoạt động chủ yếu Các hoạt động cung ứng đầu vào -Tính đúng đắn của hệ thống kiểm soát tồn kho và nguyên vật liệu; Hiệu suất của các hoạt động tồn trữ nguyên vật liệu.
Vận hành sản xuất (dịch vụ) -Năng suất của thiết bị so với năng suất của nhà cạnh tranh chủ yếu; Sự phù hợp của quá trình tự động hóa sản xuất. -Hiệu quả của hệ thống kiểm soát sản xuất để nâng cao chất lượng và giảm chi phí; Hiệu suất của việc bố trí mặt bằng sản xuất và thiết kế các bước công việc. Các hoạt động đầu ra TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 -Tính đúng lúc và hiệu suất của hoạt động phân phối sản phẩm và dịch vụ; Hiệu suất của các hoạt động tồn trữ thành phẩm. Tiếp thị và bán hàng -Hiệu quả của việc nghiên cứu thị trường trong việc nhận dạng các nhu cầu và các phân khúc khách hàng; Lượng giá các kênh phân phối khác nhau; Mức độ động viên và năng lực của lực lượng bán hàng.