CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BANCASSURANCE VÀ BÁN CHÉO SẢN PHẨM BANCASSURANCE TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BANCASSURANCE 1. Khái niệm Bancassurance Bancassurance là thuật ngữ chỉ mối quan hệ liên kết ngân hàng và bảo hiểm, và là hoạt động phát sinh do nhu cầu thực tế của xã hội. Do sự khác nhau về môi trường kinh tế xã hội, mức độ phát triển dịch vụ và mối quan hệ liên kết, khung pháp lý và tập quán thương mại cũng như thói quen tiêu dùng, khái niệm Bancassurance rất đa dạng.
Theo Clarence Wong (2002), chuyên gia trong lĩnh vực bảo hiểm và dịch vụ tài chính của Công ty Tái Bảo hiểm Quốc gia Thụy Sĩ (Swiss Re) – một trong những công ty Tái Bảo hiểm hàng đầu thế giới: “Bancassurance là một chiến lược của các ngân hàng và các công ty bảo hiểm nhằm khai thác với phương thức ít nhiều thích hợp thị trường các dịch vụ tài chính”. Khái niệm này được Swiss Re và tác giả đưa ra dưới góc độ nghiên cứu về chiến lược kinh doanh mà các ngân hàng hay các doanh nghiệp bảo hiểm phát triển hoạt động trong thị trường dịch vụ tài chính nói chung và thị trường tài chính Châu Á nói riêng. Khái niệm này cho thấy sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các chủ thể khác nhau trên thị trường tài chính. Cũng vẫn là nghiên cứu của Swiss Re nhưng xem xét trên góc độ kết hợp giữa ngân hàng và bảo hiểm, “Thuật ngữ Bancassurance chỉ nỗ lực chung của các ngân hàng và các nhà bảo hiểm trong việc cung cấp các dịch vụ cho các khách hàng của ngân hàng”.
Định nghĩa phản ánh bản chất của Bancassurance chính là sự liên kết giữa ngân hàng và bảo hiểm nhằm cung cấp các sản phẩm dịch vụ cho cùng một cơ sở khách hàng của ngân hàng. Trong khuôn khổ nghiên cứu của Munich Re – một trong 5 công ty Tái Bảo hiểm hàng đầu thế giới, Yiannis (2001) định nghĩa “Bancassurance là việc phân phối các dịch 8 vụ và sản phẩm ngân hàng và bảo hiểm thông qua một kênh phân phối chung đến cùng một cơ sở khách hàng”. Điểm mấu chốt của khái niệm này là cả ngân hàng và bảo hiểm sử dụng chung một dữ liệu khách hàng trong việc phân phối sản phẩm và dịch vụ. Trong nghiên cứu của Steven (2007) “Bancassurance là việc bán các sản phẩm bảo hiểm bán lẻ cho cơ sở khách hàng của ngân hàng”.
Đây là khái niệm được đưa ra trong nghiên cứu về Bancassurance tại các nước trên thế giới, đặc biệt là tại các thị trường phát triển. Có thể thấy khái niệm này nhấn mạnh vào việc phân phối các sản phẩm bảo hiểm bán lẻ qua các ngân hàng cho khách hàng của ngân hàng. Trên thực tế đây cũng là lĩnh vực phân phối bảo hiểm thành công nhất của các Bancassurance tại Châu Âu. Các khái niệm trên có một số điểm chung: Bancassurance là sự kết hợp giữa ngân hàng và bảo hiểm; Bancassurance phân phối sản phẩm cho cơ sở khách hàng của ngân hàng; Các sản phẩm gắn với đặc thù của hoạt động ngân hàng; Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển và dưới tác động của các yếu tố cạnh tranh, nhu cầu thị trường và yêu cầu mở rộng, các Bancassurance thường phát triển thành một công ty bảo hiểm thông thường và Ngân hàng trở thành kênh phân phối chủ yếu của Bancassurance và được gọi là kênh phân phối Bancassurance.
Từ thực tế phát triển của Bancassurance tại các thị trường và các nghiên cứu liên quan đến Bancassurance của các nhà chuyên môn có thể tóm lược các thuật ngữ cơ bản liên quan đến Bancassurance như sau: “Bancassurance là sự kết hợp giữa bảo hiểm và ngân hàng để tối đa hóa dịch vụ và lợi nhuận của các bên”. Kênh phân phối Bancassurancesurane được xác định là “kênh phân phối các sản phẩm bảo hiểm qua Ngân hàng, phân phối các sản phẩm bảo hiểm đến các khách hàng của Ngân hàng”. Xét trên mối quan hệ ràng buộc, một Bancassurance được cấu thành bởi nhiều bên như ngân hàng, bảo hiểm, khách hàng và chịu tác động bởi các bên liên quan như cơ quan quản lý giám sát, các hiệp hội nghề tuy nhiên bảo hiểm vẫn giữ vai trò chủ đạo. Một Bancassurance phát triển thể hiện một mô hình hoạt động bao gồm cả quá trình thiết 9 kế sản phẩm, phân phối sản phẩm,… nhằm cung cấp dịch vụ phù hợp nhất và tối đa hóa quyền lợi của các bên.
Ở bất kể mức độ phát triển nào hoạt động này đều phải được thực hiện để đạt được kết quả tốt nhất, vì vậy có thể gọi hoạt động này là “hoạt động Bancassurance”. Trong công ty bảo hiểm, “hoạt động Bancassurance” là: “nỗ lực của công ty bảo hiểm trong việc phát triển sản phẩm, thiết lập mối quan hệ hợp tác với ngân hàng phát triển kênh phân phối hiệu quả, và các hoạt động khác nhằm đạt được kết quả cao nhất từ kênh phân phối Bancassurance”. Bất kể ở mức độ phát triển nào của Bancassurance, hoạt động Bancassurance vẫn luôn là nhân tố cốt yếu. Một số mô hình Bancassurance Dựa trên mức độ quan hệ hợp tác giữa công ty bảo hiểm và ngân hàng, việc việc liên kết bảo hiểm - ngân hàng được thực hiện theo 04 mô hình cơ bản là: Mô hình thỏa thuận phân phối, mô hình chiến lược liên kết, mô hình liên doanh và mô hình tập đoàn dịch vụ tài chính.
Ngân hàng và công ty bảo hiểm có thể chọn một trong những mô hình này để sắp xếp kênh Bancassurance. Mô hình thoả thuận phân phối a. Mô hình đại lý phân phối Mô hình đại lý phân phối là hình thức xuất hiện sớm nhất của Bancassurance. Mô hình này chỉ đơn giản là một kênh phân phối cung cấp SPBH đơn thuần trong đó các sản phẩm truyền thống được bán bởi NH (có thể bởi nhân viên NH hoặc nhân viên BH tại NH).
Để có thể thành lập một công ty BH trực thuộc NH đòi hỏi NH phải có mạng lưới đủ rộng, tiềm lực tài chính đủ lớn và một yếu tố quan trọng không thể thiếu là kinh nghiệm quản trị điều hành. Vì vậy, các NH thường chọn liên kết với các DNBH, làm đại lý phân phối các SPBH cho các DNBH này thay vì thành lập một công ty BH riêng để tránh tập trung quá nhiều nguồn lực, tiết kiệm chi phí trong khi DTPBH có thể thu được vẫn rất tiềm năng. Trong mô hình đại lý phân phối, một NH có thể có quan hệ đại lý phân phối đối với một hoặc nhiều DNBH và ngược lại một DNBH cũng có thể ký hợp đồng đại lý với một hoặc nhiều NH. NH sẽ nhận HHPBH trên doanh thu BH mà NH 10 mang lại cho công ty BH.
Có thể khái quát quan hệ hợp tác giữa NH và DNBH theo mô hình đại lý phân phối như sau: Hình 1.1 : Mô hình đại lý phân phối Mô hình đại lý phân phối là mô hình đơn giản nhất nhưng vẫn khá hiệu quả. NH có thể chia sẻ hoặc không chia sẻ cơ sở dữ liệu khách hàng của mình. Mức độ chia sẻ dữ liệu sẽ phụ thuộc vào thỏa thuận hợp tác của hai bên. Mặt khác, NH có thể triển khai sản phẩm mà không cần đầu tư nghiên cứu xây dựng SPBH.
Tuy nhiên, điểm hạn chế của mô hình này đối với NH là NH bị phụ thuộc vào DNBH cũng như chính sách phát triển sản phẩm của DNBH khi đưa SPBH vào phân phối đồng thời SPBH đơn thuần được thiết kế để cung cấp cho thị trường chung nên sẽ không tích hợp được sản phẩm của từng NH cụ thể. Mô hình liên minh chiến lược Mô hình liên minh chiến lược thực chất là mô hình đại lý phân phối tuy nhiên mức độ liên kết giữa NHvà DNBH chặt chẽ hơn. Đặc trưng của mô hình này so với mô hình đại lý phân phối là một NH chỉ liên kết với một DNBH. Trong mối quan hệ liên minh chiến lược này, DNBH cam kết chặt chẽ hơn trong việc phát triển sản phẩm đặc thù phù hợp NH đối tác và cung cấp dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng.
Ngoài ra, công ty BH và NH sẽ cộng tác chặt chẽ hơn trong các lĩnh vực đặc biệt là quản lý bán hàng.2: Mô hình liên minh chiến lược Trong mối quan hệ này, cơ sở dữ liệu khách hàng có thể được chia sẻ nhiều hơn giữa NH và DNBH. NHcũng sẽ thu được hoa hồng dựa trên DTPBH. Ngoài ra, NH có thể nhận thêm một phần thu nhập chia từ lợi nhuận “tiềm năng” phụ thuộc vào thỏa thuận hợp tác của hai bên. Mô hình chiến lược liên kết Các ngân hàng sẽ cung cấp sản phẩm cho các công ty bảo hiểm với tư cách là đồng minh chiến lược của nhau, tức là các ngân hàng sẽ đầu tư vào các công ty bảo hiểm, trong trường hợp này, hai bên sẽ có mức độ phối hợp cao hơn trong việc cung ứng sản phẩm và cần đầu tư đúng mức vào công nghệ thông tin và nhân viên bán hàng.3: Mô hình chiến lược liên kết 1.
Mô hình liên doanh Ngân hàng và công ty bảo hiểm cùng thành lập một pháp nhân sở hữu chung là doanh nghiệp bảo hiểm mới. Theo mô hình hợp tác này, việc thiết kế và phân phối sản phẩm hoàn toàn được thực hiện bởi công ty bảo hiểm mới. Giữa ngân hàng và công ty bảo hiểm có sự cam kết mạnh mẽ và dài hạn từ hai phía về chiến lược phân phối sản phẩm, về cơ sở vật chất; cả hai bên cùng sở hữu về sản phẩm và khách hàng, cùng chia sẻ dữ liệu khách hàng và chịu trách nghiệm quản lý. Phần lợi nhuận được chia từ kết quả kinh doanh của liên doanh này sẽ là lợi nhuận của ngân hàng.
Nếu ngân hàng và công ty bảo hiểm mới này có hợp đồng hợp tác phân phối thì sẽ nhận được hoa hồng trên doanh thu bán hàng.4: Mô hình liên doanh 1. Mô hình sở hữu đơn nhất Mô hình sở hữu đơn nhất là mô hình mà một công ty bảo hiểm có thể thành lập hoặc mua lại một ngân hàng hoặc một ngân hàng có thể tạo ra hoặc mua một công ty bảo hiểm. Hoặc một tập đoàn lớn hơn có thể tìm cách thành lập nhiều công ty dịch vụ tài chính, bao gồm một ngân hàng và một công ty bảo hiểm, và có thể sử dụng sự hiệp lực đi kèm với việc điều hành cả hai doanh nghiệp. Ở đây, ngân hàng và công ty bảo hiểm hợp tác, chia sẻ hoàn toàn về việc kinh doanh và mạng lưới phân phối.
Theo lý thuyết, mô hình này tối đa hóa giá trị cũng như quyền lợi cho ngân hàng. Thu nhập của công ty bảo hiểm là một phần của ngân hàng.