chương 1)[1]. Hôn nhân Việt Nam được xây dựng dựa trên cơ sở gắn kết tình cảm giữa một người nam và một người nữ, do đó pháp luật Việt Nam không thừa nhận chế độ hôn ước và coi những tài sản mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung là tài sản chung của vợ chồng. Thứ tư, dựa vào phương pháp suy đoán pháp lý:. Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung.
Phương pháp suy đoán pháp lý để xác định tài sản chung của vợ chồng được pháp luật Việt Nam áp dụng trong các trường hợp có tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng. Nếu một bên vợ hoặc chồng cho rằng tài sản đó là tài sản riêng của mình thì phải có nghĩa vụ chứng minh, nếu không chứng minh được thì tài sản đó được suy đoán là tài sản chung của vợ chồng. Phương pháp này không chỉ được áp dụng ở Việt Nam mà còn được pháp luật Pháp và Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan (BLDS - TM) áp dụng để xác định tài sản chung của vợ chồng. Chẳng hạn, Điều 1474 khoản 3 BLDS - TM Thái Lan quy định: Trong trường hợp có nghi ngờ về việc một tài sản có phải là tài sản riêng hay không, thì tài sản đó được coi là tài sản chung.
Hay BLDS Pháp: Mọi tài sản dù là động sản hay bất động sản, đều được coi là thu nhập của cộng đồng tài sản, nếu không chứng minh được đó là tài sản riêng của vợ hoặc chồng theo quy định của pháp luật ( Điều 1402) [1 ] 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Điểm mới của Luật HN &GĐ năm 2000 so với các Luật HN & GĐ trước đây là quy định về quyền sử dụng đất của vợ chồng. Đây là một loại tài sản mang những nét đặc thù riêng, có giá trị lớn hoặc đem lại thu nhập chính cho vợ chồng. Vì vậy, để tránh những vướng mắc khi giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất, Luật HN & GĐ năm 2000 quy định rõ: “Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận” [14,tr.
Nếu vợ chồng không có thoả thuận thì quyền sử dụng đất đương nhiên là tài sản riêng của vợ, chồng và chỉ đứng tên một người. “Trường hợp quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ và chồng thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng”[12,tr.Tuy nhiên, khi có tranh chấp về tài sản chung hoặc tài sản riêng của vợ chồng thì bên nào cho rằng đó là tài sản riêng của mình phải có nghĩa vụ chứng minh. Chẳng hạn, như chứng minh đó là tài sản được tặng cho riêng thì phải đưa ra được hợp đồng tặng cho, được thừa kế riêng thì phải có di chúc; tài sản tạo lập riêng trước hôn nhân thì căn cứ vào thời điểm xác lập quyền sử dụng đất được ghi trên giấy tờ chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp. Trong trường hợp không chứng minh được tài sản đang tranh chấp là tài sản riêng thì theo quy định của pháp luật, tài sản đó được coi là tài sản chung của vợ chồng.
Tóm lại, xuất phát từ tính chất của quan hệ hôn nhân là cùng chung ý chí, cùng chung công sức trong việc tạo dựng khối tài sản chung bảo đảm cho gia đình thực hiện tốt các chức năng xã hội, pháp luật Việt Nam xác định tài sản chung của vợ chồng từ khi họ kết hôn cho đến khi hôn nhân chấm dứt và những tài sản khác do vợ chồng thoả thuận hoặc do pháp luật quy định là tài sản chung mà không căn cứ vào công sức đóng góp của mỗi bên trong việc tạo dựng và phát triển khối tài sản chung đó. Vợ chồng đều có quyền chiếm 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung của gia đình ngang nhau. Tài sản chung của gia đình được chi dùng để đảm bảo nhu cầu của gia đình và thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng. Chế độ tài sản chung của vợ chồng là chế độ sở hữu chung hợp nhất đã được khẳng định tại Điều 233 của BLDS và là nguyên tắc chủ đạo có ý nghĩa xuyên suốt toàn bộ Luật HN & GĐ Việt Nam.
Mục đích và ý nghĩa xã hội của chế độ tài sản chung của vợ chồng Gia đình được xây dựng trên nền tảng của quan hệ hôn nhân. Khi quan hệ vợ chồng được xác lập, thì cùng với các quyền, nghĩa vụ nhân thân, vợ chồng có các quyền, nghĩa vụ tài sản theo quy định của pháp luật. Chế độ tài sản chung của vợ chồng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn vô cùng quan trọng. ở mỗi nhà nước khác nhau, chế độ tài sản chung của vợ chồng có ý nghĩa khác nhau xuất phát từ điều kiện kinh tế- xã hội cụ thể trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.
Ở nhà nước Chiếm hữu nô lệ, chế độ tài sản chung của vợ chồng không đặt ra, bởi vì, pháp luật của nhà nước chiếm hữu nô lệ được ban hành chỉ nhằm mục đích thể hiện ý chí của chủ nô, bảo vệ mọi quyền lợi của chủ nô và thực hiện quyền thống trị tuyệt đối của chủ nô đối với nô lệ. Nhà nước phong kiến do chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tư tưởng Nho giáo “trọng nam khinh nữ ”, đề cao lễ giáo và đạo đức phong kiến. Vì vậy, chế độ tài sản chung của vợ chồng trong gia đình phong kiến chỉ có ý nghĩa về mặt pháp lý (về hình thức giấy tờ) mà không có giá trị thực tiễn, thực chất pháp luật phong kiến chỉ nhằm mục đích bảo vệ và củng cố chế độ gia đình gia trưởng- người có toàn quyền nắm giữ và quyết định mọi vấn đề có liên quan đến tài sản, đến lợi ích chung của vợ chồng và gia đình và hạ thấp vị trí của người phụ nữ về mọi mặt. 24 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhà nước Tư bản ra đời trên cơ sở điều kiện kinh tế - xã hội TBCN, cho nên hôn nhân theo pháp luật Tư bản chỉ là một “khế ước” giữa nam và nữ trên cơ sở tiền tài và địa vị xã hội.
Chế độ tài sản chung của vợ chồng theo pháp luật các nước tư bản chỉ có ý nghĩa đề cao vai trò của cá nhân, đề cao quyền tự do, bình đẳng của từng người, bảo vệ sở hữu tư nhân. Vì vậy, hôn nhân theo pháp luật các nước TBCN có bản chất khác hẳn với bản chất của chế độ hôn nhân XHCN. Nhà nước XHCN là nhà nước tiến bộ nhất trong lịch sử nhân loại. Khác với bản chất của nhà nước Chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản, hôn nhân theo pháp luật XHCN dựa trên cơ sở tình yêu chân chính và mục đích của nó là nhằm xây dựng gia đình dân chủ, hoà thuận, hạnh phúc và bền vững.
Hình thức tổ chức gia đình XHCN là kiểu gia đình tiến bộ nhất trong lịch sử. Chế độ tài sản của vợ chồng được pháp luật thừa nhận đó là chế độ tài sản chung, không có sự phân biệt về nguồn gốc tài sản, nguồn thu nhập…Trong gia đình, vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt khối tài sản chung của vợ chồng. Không chỉ có tài sản chung, vợ chồng còn có quyền có tài sản riêng. Vì vậy, chế độ HN & GĐ nói chung và chế độ tài sản chung của vợ chồng XHCN nói riêng đã tạo điều kiện cho vợ chồng đóng góp công sức vào việc tạo lập và phát triển khối tài sản chung, phát triển kinh tế gia đình và từng bước đảm bảo ổn định xã hội.
Là một trong những chế định rất quan trọng của Luật HN & GĐ Việt Nam, chế độ tài sản chung của vợ chồng là sự phản ánh rõ nét các quy định của Hiến pháp năm 1992, BLDS về chế độ tài sản chung của vợ chồng và những đặc thù của chúng trong quan hệ HN & GĐ. Việc quy định chế độ tài sản chung của vợ chồng trong Luật HN & GĐ có ý nghĩa vô cùng quan trọng, một mặt nhằm tạo ra cơ sở pháp lý để Nhà nước thực hiện tốt vai trò quản lý và điều chỉnh các quan hệ tài sản của vợ chồng. Mặt khác, nó còn khẳng định 25 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trong việc định đoạt các vấn đề liên quan đến tài sản chung của vợ chồng. Chế độ tài sản chung của vợ chồng không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho vợ, chồng thực hiện quyền tự do, bình đẳng đối với tài sản chung mà còn là cơ sở pháp lý vững chắc bảo đảm cho gia đình thực hiện tốt các chức năng kinh tế, giáo dục con cái, đáp ứng mọi lợi ích của vợ chồng và quyền lợi của những người liên quan, xác định rõ trách nhiệm của các bên, khả năng thanh toán của vợ chồng trong các giao dịch với người thứ ba.
Ngoài ra, việc quy định chế độ tài sản chung của vợ chồng còn có ý nghĩa là tạo cơ sở pháp lý giúp cho Toà án giải quyết các tranh chấp liên quan đến tài sản chung của vợ chồng, đồng thời tạo sự thống nhất trong cách hiểu thế nào là tài sản chung và áp dụng chúng trong các trường hợp cụ thể được đúng đắn, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng.2 ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA VỢ CHỒNG VÀ VIỆC CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN 1. Địa vị pháp lý của công dân và quyền bình đẳng nam nữ theo Hiến pháp Việt Nam Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được hiểu là những quyền, nghĩa vụ được Nhà nước quy định trong Hiến pháp - văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất trong mỗi một Nhà nước. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là cơ sở chủ yếu để xác định địa vị pháp lý của công dân, là cơ sở của mọi quyền và nghĩa vụ cụ thể của mỗi công dân. Cách mạng tháng Tám thành công, ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính Phủ ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Trước chúng ta bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp.