Chương 1: Khái quát chung về chia tài sản chung của vợ chồng là nhà ở khi ly hôn theo pháp luật Việt Nam; Chương 2: Thực tiễn chia tài sản chung của vợ chồng là nhà ở khi ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định và những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG LÀ NHÀ Ở KHI LY HÔN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm, đặc điểm nhà ở 1.
Khái niệm nhà ở Đất đai là tài nguyên quốc gia, là tư liệu sản xuất và một loại tài sản đặc biệt, có giá trị cực kì to lớn trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của Việt Nam. Cũng chính vì thế, nhà ở luôn được xem là loại tài sản có vị trí, vai trò quan trọng trong cuộc sống. Xét về mặt ngữ nghĩa, “nhà ở” là một từ ghép, theo đó, “nhà” được hiểu là một công trình được con người xây dựng trên đất; còn “ở” là động từ, chỉ hoạt động sinh sống của con người duy trì tại một địa điểm cố định nào đó. Từ “ở” được ghép theo đằng sau bổ sung nghĩa về mục đích của “nhà”.
Hiểu một cách cơ bản nhất, nhà ở là công trình được xây dựng gắn với mục đích là nơi sinh sống của con người. Theo Từ điển Tiếng Việt, “nhà” được định nghĩa là: “Công trình xây dựng có mái, có tường vách để ở hay để dùng vào một việc nào đó” [41, tr. Trong xã hội thời nguyên thủy, gắn với đặc điểm đời sống du canh du cư, nơi sinh sống của con người chỉ được hình thành dưới hình thức đơn giản như túp lều, chòi bằng các nguyên vật liệu thô sơ như lá cây, gỗ, đá tự nhiên như và dưới các hình thức đơn giản để ẩn nấp, ngụy trang tránh thủ dữ, bảo vệ bản thân khỏi các hiện tượng thiên nhiên như mưa gió, lốc xoáy, bão, lũ,. Ngày nay, cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội và khoa học kỹ thuật, con người đã có thể tạo nên nơi để cư trú nâng cấp về chất lượng, hình thức và số lượng.
Từ đó, nhà ở được định hình là một công trình kiên cố, được xây dựng bằng các nguyên vật liệu chắc chắn như bê tông, thép, đá, sỏi, chống chọi 13 được với thời tiết, thiên tai để có thể sử dụng lâu dài. Nhà ở còn mang ý nghĩa là căn cứ để Nhà nước quản lý dân cư [23, tr. Luật Nhà ở năm 2014 đã đưa ra khái niệm nhà ở như sau tại khoản 1 Điều 3: “Nhà ở là công trình xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân”. Làm rõ hơn khái niệm nhà ở được quy định tại Luật nhà ở năm 2014, Luật Xây dựng năm 2014 định nghĩa: “Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình được liên kết định vị với đất”.
Căn cứ theo các quy định pháp luật vừa nêu trên, có thể hiểu “nhà ở” là công trình xây dựng nhưng phải gắn với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của gia đình, cá nhân. Các loại công trình xây dựng khác không xây dựng trên đất, và để phục vụ cho các mục đích khác như công trình dân dụng, công trình giao thông, thì không được coi là nhà ở. Ngoài ra, định nghĩa về “nhà ở” trong Luật Nhà ở năm 2014 còn giới hạn chủ thể sử dụng nhà ở với mục đích ở và sinh hoạt hàng ngày gồm hộ gia đình và cá nhân. Tuy nhiên, theo BLDS năm 2015, hộ gia đình không được coi là một chủ thể độc lập trong dân sự.
Điều này dẫn đến sự thiếu thống nhất của hệ thống pháp luật. Việc định nghĩa nhà ở chủ yếu dựa vào mục đích sử dụng, không phụ thuộc vào chủ thể sử dụng. Do đó, tác giả nhận thấy việc liệt kê chủ thể sử dụng theo quy định tại Luật Nhà ở năm 2014 nêu trên là không cần thiết. Đến Luật Nhà ở năm 2023 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 08 năm 2024) lại có định nghĩa: “Nhà ở là công trình xây dựng với mục đích để ở và phục vụ nhu cầu sinh hoạt của gia đình, cá nhân.
Nhà ở được sử dụng vào mục đích để ở và mục đích không phải để ở mà pháp luật không cấm là nhà ở có mục đích sử dụng hỗn hợp” (khoản 1 Điều 2). Nhìn chung, khái niệm này vẫn giữ nguyên tinh thần của Luật Nhà ở năm 2014. 14 Tóm lại, “nhà ở” được định nghĩa là công trình xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của con người. Đặc điểm nhà ở Từ những phân tích về khái niệm “nhà ở” nêu trên, có thể thấy “nhà ở” là một loại tài sản mang những đặc điểm sau: Thứ nhất, nhà ở là bất động sản, được xây dựng gắn liền với đất, mang tính bền vững, không thể di dời dễ dàng.
Theo quy định của tại khoản 2 Điều 105 BLDS năm 2015: “Tài sản bao gồm bất động sản và động sản”. Đồng thời, khoản 1 Điều 107 BLDS năm 2015 cũng đã liệt kê rõ ràng nhà và công trình xây dựng gắn liền với đất đai chính là bất động sản. Như vậy, trước hết, nhà ở là một loại tài sản và là bất động sản. Sở dĩ nhà ở được phân loại là bất động sản bởi đặc điểm gắn liền với đất của nó.
Theo đó, nhà ở phải được xây dựng trên đất nên giữa nhà ở và đất đai xét về mặt vật chất có tính gắn kết với nhau, không thể tách rời. Trong khi đó, đất là lớp vật chất nằm trên bề mặt trái đất, được xem là khó chuyển rời, trừ trường hợp do lực tác động rất lớn từ các hiện tượng thiên nhiên như động đất, sóng thần,… hoặc do tác động tàn phá của con người [18, tr. Cũng bởi vì thế, các công trình xây dựng trên đất, trong đó có nhà ở có thể tồn tại rất lâu, có những công trình được trùng tu và cải tạo có thể tồn tại hàng trăm năm. Thứ hai, nhà ở được xây dựng gắn với mục đích phục vụ hoạt động sinh hoạt của con người.
Đây là đặc điểm mang tính đặc trưng nhất của nhà ở so với những công trình xây dựng khác. Có thể hiểu hoạt động sinh hoạt thường ngày của con người bao gồm tất cả các hoạt động được con người thực hiện để chăm sóc, phát triển bản thân, được hiểu mang tính riêng tư. Như vậy những công trình được xây dựng nhằm phục vụ mục đích khác như kinh doanh, hội họp, biểu diễn nghệ thuật,. thì không được coi là nhà ở [21, tr.
Ngoài ra, theo tư tưởng phổ biến của người Việt Nam, nhà ở không chỉ là nơi 15 để trú ngụ, phục vụ sinh hoạt vật chất của con người, mà nó còn mang một ý nghĩa tinh thần to lớn. Người Việt luôn quan niệm nhà ở chính là “tổ ấm”, là nơi để xây dựng gia đình và gắn kết tình cảm giữa các thành viên dưới một mái nhà. Thứ ba, nhà ở là tài sản có giá trị to lớn. Do được xây dựng và gắn liền với đất, có tính chất lâu bền, mang lại nhiều lợi ích trong cuộc sống hàng ngày của con người, vì vậy nhà ở có giá trị kinh tế lớn.
Nhà ở có diện tích càng lớn, được chủ sở hữu đầu tư nhiều về cấu trúc, thiết kế, tiện ích thì càng có giá trị kinh tế lớn. Bên cạnh đó, các yếu tố khác gắn với nhà ở như thẩm mỹ, phong thủy, tính độc đáo, môi trường xung quanh,… cũng góp phần làm tăng thêm giá trị của nó. Thực tế chứng minh, càng ngày nhà ở càng có giá trị cao. Tại Việt Nam, theo Thông cáo báo chí kết quả khảo sát mức sống dân cư năm 2023 của Tổng cục Thống kê, thu nhập bình quân một người một tháng năm 2023 theo giá hiện hành đạt 4,96 triệu đồng (tương đương 59,52 triệu đồng một năm) [35].
So sánh với giá thành của nhà ở, có thể khẳng định nhà ở là tài sản có giá trị lớn, cao gấp nhiều lần so với mức thu nhập bình quân mỗi năm của một người dân nước ta. Khái niệm về chia tài sản chung của vợ chồng là nhà ở khi ly hôn 1. Khái niệm tài sản chung của vợ chồng Theo quy định của Luật HN&GĐ hiện hành, TSC của vợ chồng bao gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật HN&GĐ năm 2014; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là TSC. Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định QSDĐ mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là TSC của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế 16 riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng như việc vợ hoặc chồng được tặng cho, thừa kế một khối tài sản như tiền, vàng, và mang số tiền này đi mua QSDĐ và đứng tên riêng.
Như vậy, hiểu một cách khái quát TSC của vợ chồng là tài sản vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân, được thừa kế, tặng cho chung hoặc tài sản khác được vợ chồng thỏa thuận là TSC. Đồng thời, pháp luật cũng quy định TSC của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, và TSC này được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình và thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng. Dựa trên suy đoán theo hướng ưu tiên phát triển khối TSC của vợ chồng, trong tình huống nếu không có căn cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng hiện đang tồn tại tranh chấp có phải là tài sản riêng của mỗi bên hay không thì tài sản đó mặc nhiên được xem là TSC [7, tr. Có thể thấy, sự tồn tại của quan hệ hôn nhân chính là cơ sở để xác định khối TSC của vợ chồng.
Về nguyên tắc, khi nam nữ kết hôn và trở thành vợ chồng, tính cộng đồng tài sản giữa họ được thiết lập, đó là chế độ TSC của vợ chồng, và TSC tồn tại khi quan hệ hôn nhân vẫn còn tồn tại. Trái lại khi hôn nhân chấm dứt về mặt pháp lý (do ly hôn, một bên vợ, chồng chết hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết) thì chế độ tài sản này cũng chấm dứt theo.