phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, Luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng, đó là: Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về phát triển đội ngũ cán bộ quản lý ở cấp xã; Chƣơng 2: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý cấp xã trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An; Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển đội ngũ cán bộ quản lý cấp xã trên địa bàn huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ Ở CẤP XÃ 1. Khái niệm, vai trò của đội ngũ cán bộ quản lý ở cấp xã 1. Khái niệm đội ngũ cán bộ quản lý cấp xã 1.
Khái niệm cán bộ Theo từ điển Tiếng Việt 1992 của Viện Khoa học xã hội Việt Nam thì cán bộ có nghĩa là: (1) "Ngƣời làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nƣớc"; (2) "Ngƣời làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với ngƣời thƣờng không có chức vụ"[56]. Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Cán bộ, công chức là công dân Việt nam, đƣợc bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị xã hội ở Trung ƣơng, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng; ở huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc Tỉnh, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách Nhà nƣớc” [42]. Theo Pháp lệnh cán bộ, công chức, khái niệm cán bộ công chức đƣợc hiểu nhƣ sau: Là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm hay bầu cử, đƣợc xếp vào ngạch, làm việc thƣờng xuyên trong các cơ quan nhà nƣớc, các tổ chức chính trị, chính trị xã hội, hƣởng lƣơng từ ngân sách Nhà nƣớc [58]. Nhƣ vậy, cán bộ là khái niệm chỉ người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn hoặc là người có chức vụ được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ, làm việc trong các cơ quan Nhà nước, các cơ quan trong hệ thống chính trị và các tổ chức chính trị xã hội.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái niệm đội ngũ cán bộ Khi nói đến “đội ngũ” chúng ta thƣờng nói đến một lực lƣợng có số đông, bao gồm nhiều cá nhân hoặc cá thể đƣợc tập hợp lại thành lực lƣợng có quy mô, có tổ chức. Theo từ điển Tiếng Việt: Đội ngũ là tập hợp gồm số đông ngƣời cùng chức năng, nhiệm vụ, nghề nghiệp hợp thành lực lƣợng hoạt động trong hệ thống tổ chức và cùng chung một mục đích nhất định [57, tr. Chúng ta thƣờng nói: Đội ngũ chiến sỹ, đội ngũ giáo viên, đội ngũ y bác sỹ, đội ngũ cựu chiến binh.
Đây là những ngƣời có cùng chức năng, nhiệm vụ, nghề nghiệp đƣợc tập hợp trong những tổ chức phù hợp, có sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất với những tôn chỉ, mục đích hoạt động nhất định. Nhƣ trên đã nói, cán bộ là ngƣời làm công tác nghiệp vụ chuyên môn hoặc là ngƣời có chức vụ đƣợc bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ, làm việc trong các cơ quan Nhà nƣớc, các cơ quan trong hệ thống chính trị và các tổ chức chính trị xã hội. Nhƣ vậy, đội ngũ cán bộ là tập hợp những cán bộ có cùng chức năng, nhiệm vụ, hay nói cách khác là tập hợp những người có chức vụ và làm công tác nghiệp vụ chuyên môn, làm việc thường xuyên trong các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị, chính trị xã hội. Đội ngũ cán bộ đƣợc phân thành 02 nhóm chính: Nhóm có chức vụ, gồm những cán bộ lãnh đạo, quản lý đƣợc bầu cử hoặc bổ nhiệm và nhóm làm nghiệp vụ chuyên môn đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc phân công một nhiệm vụ cụ thể.
Khái niệm đội ngũ cán bộ quản lý Quản lý nói chung là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tƣợng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đạt đƣợc các mục tiêu đặt ra trong sự vận động của sự vật. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đối tƣợng quản lý chủ yếu là quản lý con ngƣời, còn khách thể quản lý ngoài quản lý con ngƣời còn quản lý các khách thể khác nhƣ tài nguyên, cơ sở vật chất kỹ thuật và các vấn đề về xã hội. Quản lý nảy sinh chủ yếu từ tính xã hội hóa lao động sản xuất và hoạt động lao động nói chung của con ngƣời. Quản lý là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều khiển, hƣớng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con ngƣời để đạt tới mục đích đúng ý chí của ngƣời quản lý và phù hợp với quy luật khách quan.
Quản lý nhà nƣớc là một dạng quản lý do Nhà nƣớc làm chủ thể, định hƣớng điều hành, chi phối,… để đạt đƣợc mục tiêu kinh tế xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Quản lý nhà nƣớc là quản lý xã hội bằng quyền lực nhà nƣớc, ý chí nhà nƣớc, thông qua bộ máy nhà nƣớc và đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý. Đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý là những ngƣời đƣợc bầu cử, tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc phân công đảm nhiệm nhiệm vụ quản lý trên một hoặc một số lĩnh vực kinh tế xã hội cụ thể trong các cơ quan Nhà nƣớc, các tổ chức chính trị, chính trị xã hội. Nhƣ vậy, đội ngũ cán bộ quản lý là tập hợp những người được bầu cử, tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc phân công đảm nhiệm nhiệm vụ quản lý trên một hoặc một số lĩnh vực kinh tế xã hội cụ thể trong các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị, chính trị xã hội, được hưởng lương từ Ngân sách Nhà nước.
Nhà nƣớc quản lý mọi hoạt động trong xã hội, trong đó có hoạt động kinh tế. Quản lý nhà nƣớc về kinh tế là tập hợp những tác động hợp quy luật đƣợc thể chế hóa bằng pháp luật của chủ thể quản lý nhằm tác động lên các phân hệ quản lý để thực hiện các mục tiêu kinh tế. Quản lý nhà nƣớc về kinh tế là sự tác động có tổ chức, có mục đích của Nhà nƣớc lên các hoạt động kinh tế (đối tƣợng và khách thể hoạt động kinh 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tế) để sử dụng có hiệu quả tiềm năng, các nguồn lực, các cơ hội nhằm đạt đƣợc mục tiêu trƣớc mắt và lâu dài của nền kinh tế - xã hội. Quản lý nhà nƣớc về kinh tế là quản lý các quá trình kinh tế, trong đó quản lý kinh tế vĩ mô là chủ yếu.
Nội dung quản lý nhà nƣớc về kinh tế bao gồm: xây dựng và chỉ đạo, tổ chức thực hiện chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế; xác định mục tiêu, phân bổ nguồn lực, ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về kinh tế. Quản lý nhà nƣớc về kinh tế là một hoạt động quan trọng trong các hoạt động quản lý của Nhà nƣớc. Để thực hiện đƣợc chức năng này cần có đội ngũ cán bộ. Họ là những cán bộ, công chức nhà nƣớc, làm việc trong lĩnh vực QLNN về kinh tế, đƣợc bố trí trong hệ thống các cơ quan quản lý kinh tế nằm trong bộ máy Nhà nƣớc.
Cán bộ công chức QLNN về kinh tế trong phạm vi hẹp là một bộ phận cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan quản lý kinh tế của chính phủ và chính quyền các cấp. Nhƣ vậy, đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế là tập hợp tất cả những cán bộ, công chức nhà nước, làm việc trong lĩnh vực quản lý nhà nước về kinh tế, được bố trí trong hệ thống các cơ quan quản lý kinh tế nằm trong bộ máy nhà nước. Đội ngũ cán bộ QLNN về kinh tế có những đặc trƣng chung là: - Đƣợc Nhà nƣớc ủy thác hoặc lấy danh nghĩa Nhà nƣớc hoạt động. - Đƣợc bố trí làm việc thƣờng xuyên trong các cơ quan, tổ chức thuộc guồng máy Nhà nƣớc, đƣợc trả lƣơng hàng tháng từ ngân sách nhà nƣớc.
- Giữ một chức vụ nào đó trong bộ máy Nhà nƣớc quản lý về kinh tế. Đội ngũ cán bộ QLNN về kinh tế là một bộ phận cán bộ hoạt động trong lĩnh vực kinh tế. Họ cũng là ngƣời lao động quản lý, nhƣng trực tiếp trong các lĩnh vực quản lý kinh tế. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Xét về chức năng, nhiệm vụ thì đội ngũ cán bộ QLNN về kinh tế đƣợc phân thành 03 nhóm cơ bản nhƣ sau: + Nhóm thứ nhất: các nhà hoạch định chính sách kinh tế, gồm những ngƣời quyết định chính sách, biện pháp lớn về kinh tế, biện pháp sử dụng những công cụ trực tiếp quản lý, điều tiết sự vận động của nền kinh tế.
+ Nhóm thứ hai: các chuyên gia phân tích kinh tế, là những nhà chuyên môn sâu trên từng lĩnh vực cụ thể, có khả năng phân tích, tổng hợp, chuẩn bị phƣơng án sơ bộ, từng mặt cho các nhà quyết định chính sách. + Nhóm thứ ba: các nhân viên nghiệp vụ - kỹ thuật, là ngƣời giúp việc về mặt kỹ thuật quản lý nhƣ những kỹ thuật viên máy tính, thƣ ký, quản trị văn phòng. Họ trực tiếp chuẩn bị tƣ liệu, thông tin phục vụ cho chuyên gia và các nhà quyết định chính sách. CÁN BỘ QUẢN LÝ KINH TẾ Cán bộ quản lý nhà nước Cán bộ quản lý sản xuất, về kinh tế kinh doanh Các nhà Các Các nhân hoạch chuyên viên định gia phân nghiệp vụ, chính tích kinh kỹ thuật sách kinh tế tế Sơ đồ 1.
Sơ đồ bộ máy cán bộ quản lý kinh tế (Nguồn: Tài liệu Quản lý kinh tế, Viện Quản lý kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2007) 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đội ngũ cán bộ quản lý cấp xã Theo điểm 3 điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008: “Cán bộ xã, phƣờng, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, đƣợc bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thƣờng trực Hội đồng nhân dân (HĐND), UBND, Bí thƣ, Phó Bí thƣ Đảng ủy, ngƣời đứng đầu các tổ chức chính trị xã hội cấp xã; công chức cấp xã là công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc”[42].