CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Rơm Rơm là phụ phẩm còn lại sau khi cây lúa được thu hoạch. Đặc tính của rơm được chia thành 2 nhóm chính gồm các tính chất vật lý và thành phần hóa học. Các tính chất vật lý bao gồm khối lượng phân tử, kích thước hạt, tỷ trọng khối, khả năng giữ nước, nhiệt trị, độ dẫn nhiệt và hàm lượng ẩm. Thành phần hóa học của rơm gồm 3 thành phần chính là cellulose, hemicellulose, lignin, ngoài ra còn có protein, tro và các thành phần nguyên tố khác[6].
Cho đến nay, phần lớn rơm rạ sau khi được thu hoạch sẽ được thu gom thành đống để tự phân hủy ngoài đồng hoặc đốt ngay tại đồng ruộng. Phần nhỏ còn lại được sử dụng để làm thức ăn cho gia súc, trồng nấm hay phục vụ nhu cầu đun nấu cho các hộ gia đình. Tổng sinh khối của rơm rạ thu được phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống lúa, đất, chất dinh dưỡng và thời tiết. Ngoài ra lượng rơm rạ thu được còn phụ thuộc vào chiều cao cắt (chiều cao của gốc rạ).
Trên cơ sở số liệu của tổng cục thống kê về tổng sản lượng lúa theo từng năm[1] và hệ số tỷ lệ rơm/thóc là 1.3[2] tác giả đã tính toán và xây dựng được biểu đồ lượng rơm hằng năm tại Việt Nam như được trình bày trong Hình 1. Lượng rơm thải bỏ ước tính hằng năm tại Việt Nam (nghìn tấn) Bảng 1. Bảng thống kê số lượng của bốn chất thải nông nghiệp chính theo báo cáo của Sarkar và cộng sự năm 2012[7] Lượng chất thải (triệu tấn) Loại chất thải Châu Đại Châu Phi Châu Á Châu Âu Châu Mỹ Dương Rơm rạ 20.49 THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG. Lưu hành nội bộ 5 Dựa vào Hình 1.1 ta có thể thấy lượng rơm hằng năm phát thải ra môi trường là rất lớn.
Như năm 2012, ở châu Á lượng rơm ra phát thải là 667.6 triệu tấn[7], trong đó riêng Việt Nam là 56859. Riêng vụ Đông Xuân năm 2020 sản lượng rơm rạ bị bỏ lại ở đồng ruộng ở Hà Nội là 384.1 Tính chất vật lý Tùy thuộc vào hình thái, phương pháp xử lý, đóng gói mà rơm có tỷ trọng khối khác nhau. Rơm ngay sau khi thu hoạch xong trên đồng ruộng có tỷ trọng khối trong khoảng 162. Khi tỷ trọng khối của rơm càng nhỏ thì thể tích/kg của rơm càng lớn dẫn đến chi phí vận chuyển và xử lý cao hơn.
Do đó, có một số phương pháp giúp giảm kích thước và tăng tỷ trọng khối của rơm như nghiền viên, sử dụng máy ép con lăn, nén pistông, ép khối hay sử dụng máy đùn trục vít. Khối lượng phân tử của rơm thì ảnh hưởng đến nhiệt trị của sinh khối khi sử dụng làm nhiên liệu. Kích thước hạt là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình đốt cháy, khuếch tán và tốc độ phản ứng. Về khả năng giữ nước của rơm rạ ảnh hưởng đến ứng dụng cải tạo đất.
Hàm lượng ẩm của rơm ảnh hưởng đến nhiệt trị của rơm khi mà rơm được sử dụng như là nguồn năng lượng sinh học. Nhiệt trị là là một thông số quan trọng khi rơm rạ được sử dụng làm năng lượng sinh học, đây là thông số thể hiện giá trị năng lượng của rơm.2 Thành phần hóa học Rơm cũng giống như các nguồn sinh khối lignocellulosic khác đều bao gồm ba thành phần chính là cellulose, hemicellulose và lignin như được trình bày trên Hình 1. Ngoài ra, trong rơm còn có protein, tro và một số nguyên tố. Các thành phần chính của rơm Cấu trúc của rơm như Hình 1.2 cho thấy rằng trong các thành phần chính của rơm, cellulose và hemicellulose là chất hữu cơ dạng sợi còn lignin là thành tế bào.
Cấu trúc hóa học cũng như các tính chất có liên quan của cellulose, hemicellulose và lignin sẽ được trình bày ở phần tiếp theo. THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG. Lưu hành nội bộ 6 1.1 Cellulose Cellulose là một loại polyme sinh học dồi dào trên trái đất tham gia vào thành phần thành tế bào thực vật. Sự phân bố cellulose trong thành tế bào của thực vật được mô tả như Hình 1.
Cellulose trong thành tế bào của thực vật Cellulose không màu, không mùi, không hòa tan trong nước và nhiều dung môi hữu cơ. Do liên kết hydro giữa các phân tử cellulose với nhau kèm theo lực Van der Waals và vùng cấu trúc tinh thể khiến cho cellulose khó bị hòa tan. Tuy nhiên, liên kết glycosidic trong cellulose có thể bị thủy phân trong môi trường axit [9]. Cấu trúc phân tử của chuỗi cellulose được trình bày trên Hình 1.
Cấu trúc phân tử của chuỗi cellulose điển hình Hình 1. Liên kết hydro giữa các phân tử cellulose THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG. Lưu hành nội bộ 7 Hình 1.5 cho thấy rằng cấu tạo của cellulose là một homopolysaccharide mạch thẳng chứa các mắt xích β-D-glucose. Các mắt xích được liên kết cộng hóa trị bằng liên kết β-1,4-glycosidic giữa các nhóm hydroxyl của cacbon C1 và C4.
Mỗi chuỗi cellulose được cấu tạo bởi một đầu khử được kết thúc bằng nhóm C1 – OH và đầu còn lại là một đầu không khử với nhóm C4 – OH [9][10]. Cellulose là phân tử cấu trúc chính trong thành tế bào thực vật. Trong rơm, cellulose chiếm khoảng 32 – 47% [5]. Cellulose là thành phần vừa có tính tương thích sinh học, khả năng phân hủy sinh học, vừa có thể tái tạo, có độ bền cơ tốt.
Đây là loại vật liệu an toàn, chi phí thấp và thân thiện với môi trường.2 Hemicellulose Hemicellulose là một cacbohydrate phong phú thứ hai trên thế giới sau cellulose. Hemicellulose là một polyme ngắn với độ trùng hợp khoảng từ 50 – 200, trong khi các polyme cellulose dài hơn với độ trùng hợp từ 500 – 15000[11]. Khác với cellulose có cấu tạo mạch thẳng và không có nhóm đính kèm thì một số hemicellulose được phân nhánh và hầu hết đều có nhóm phụ đính kèm. Hemicellulose là một polysaccharide có mạch liên kết β-(1-4)[12].
Hemicellulose có thể phân thành 3 họ được đặt tên theo mạch polyme gồm xylan, manan và galactan. Các monome tạo thành hemicellulose được thể hiện trong Hình 1. THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG. Lưu hành nội bộ 8 Hình 1.
Các monome của hemicellulose Từ Hình 1.6 ta có thể thấy hemicellulose được cấu tạo từ 2 loại monome chính là hexose (gồm glucose, galactose, mannose) và pentose (gồm xylose, arabinose). Hemicellulose có cấu trúc ngẫu nhiên, vô định hình và có độ bền thấp. Hemicellulose bắt đầu phân hủy trên 200oC khiến cho nó trở thành thành phần kém bền nhiệt nhất của thành tế bào. Chỉ một số ít hemicellulose hòa tan trong nước như glactan và galactomannan.
Hemicellulose dễ dàng thủy phân trong dung dịch NaOH loãng và axit loãng. Sự phân hủy kiềm xảy ra từ đầu khử của polyme (phần cuối với nhóm C1 – OH tự do hoặc không liên kết) [11]. Vai trò quan trọng của hemicellulose là củng cố thành tế bào bằng cách tương tác với cellulose và lignin. Trong rơm, hemicellulose chiếm khoảng 19 – 27%[5].3 Lignin Lignin là một cấu trúc polyme vô định hình được tạo thành bằng liên kết ngang từ các tiểu đơn vị phenolic.
Có thể trùng hợp thành 3 loại ligin gồm syringyl lignin, guaiacyl lignin và hydroxyl-phenyl lignin từ 3 monome tương ứng là rượu sinapyl, coniferyl và p-coumaryl được thể hiện trong Hình 1. THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG. Lưu hành nội bộ 9 Hình 1. Monome và loại lignin tạo thành tương ứng Ba loại cấu trúc chính của lignin trong Hình 1.7 có thể kết hợp với nhau để tạo ra polyme lignin có cấu trúc không gian ba chiều trong quá trình sinh tổng hợp lignin [14].
Cấu trúc cơ bản của lignin được chia thành 2 phần gồm vòng thơm và phần còn lại là chuỗi C3. Vị trí phản ứng duy nhất trong lignin là nhóm – OH của phenol và ancol. Các monome của lignin liên kết với nhau thông qua liên kết bất đối xứng của liên kết ete (C – O – C) và liên kết cacbon (C – C). Có nhiều loại liên kết được hình thành, trong đó liên kết ete β-O-4 chiếm ưu thế trong các cấu trúc, thường chiếm khoảng một nửa số liên kết được hình thành.
Lignin kỵ nước vì có các nhóm vòng benzene bền cộng hưởng tạo thành mức độ liên kết ngang cao trong polyme lignin. Nồng độ cao của các nhóm hydroxyl phenolic có trong lignin làm cho chúng có thể hòa tan trong điều kiện kiềm[13]. Lignin trong thực vật chủ yếu cung cấp độ cứng bằng cách tăng cường cấu trúc của thành tế bào. Trong rơm, lignin chiếm khoảng 5 – 24%[5].3 Ứng dụng của rơm Rơm được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực của đời sống như làm thức ăn cho gia súc, làm vật liệu xây dựng, sản xuất bột giấy và giấy, làm nguồn năng lượng sinh học hay ứng dụng trong nông nghiệp.
Rơm được sử dụng làm thức ăn cho gia súc ở nhiều quốc gia trên thế giới do rơm có hàm lượng sợi cao. Tuy nhiên, khả năng tiêu hóa và hàm lượng protein trong rơm thấp do đó rơm cần trải qua quá trình tiền xử lý bằng vật lý, hóa học, hóa lý hoặc sinh học để tăng khả năng tiêu hóa và giá trị dinh dưỡng của nó. THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG. Lưu hành nội bộ 10 Trong ngành vật liệu xây dựng, rơm được sử dụng để làm ván dăm, sợi, tấm xi măng và vật liệu composite.
Một số nước trên thế giới còn sử dụng rơm để làm chất kết dính đất sét và bê tông. Rơm rạ ép thành tấm được đề xuất là vật liệu xây dựng lý tưởng với giá thành rẻ, bền tại các vùng động đất, đặc biệt là các nước đang phát triển. Do rơm rạ ép thành tấm nhẹ, bền, chống nước, cách điện tốt và không độc. Ngoài ra, đây là vật liệu có thể phân hủy và tái sử dụng được.
Những năm gần đây việc sản xuất bột giấy và giấy từ rơm rạ có được nhiều lợi ích như giảm việc nhập khẩu gỗ và bột giấy ở các nước thiếu nguồn tài nguyên gỗ, tăng lợi nhuận cho nông dân thông qua việc sử dụng phụ phẩm là rơm rạ. Ngoài ra, việc sử dụng rơm rạ còn có nhiều ưu điểm như dễ tẩy trắng hơn bột gỗ, ít tốn năng lượng hơn trong quá trình chuẩn bị bột giấy, lượng hóa chất sử dụng ít hơn. Rơm rạ được sử dụng như là nguồn năng lượng tái tạo thông qua quá trình sinh hóa hay nhiệt hóa. Quá trình sinh hóa chuyển đổi rơm rạ thành năng lượng sinh học gồm ba bước chính là tiền xử lý, thủy phân bằng enzim và lên men để sản xuất ethanol.