phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chủ yếu cùa Luận văn chia thành ba chưong như sau: + Chương ỉ. Những vấn đề lý luận về chế tài đối với vi phạm hợp đồng + Chương 2. Thực trạng pháp luật và áp dụng chế tài do vi phạm họp đồng tại các Tòa án nhân dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk + Chương 3. Những kiến nghị liên quan tới các chế tài đối với vi phạm hợp đồng và nâng cao hiệu quả áp dụng tại các Tòa án nhân dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
4 Chuong 1 NHŨNG VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÈ CHÉ TÀI ĐỐI VỚI VI PHẠM HỢP ĐỒNG 1. Khái niệm, bản chất, ý nghĩa và các đặc điếm của chế tài đối vói vi phạm hợp đồng 1. Khái niệm hợp đông, nghĩa vụ dân sự và các đặc diêm của pháp luật hợp đông Họp đồng có vai trò quan trọng trong đời sống của con người. Nó tạo lập nên đời sống của con người nhỉn từ góc nhìn pháp lý1.
Do đó giao kết và thực hiện họp đồng liên quan tới hoạt động hàng ngày của con người trong xã hội. Hợp đồng đơn giản đến nỗi một bà nội trợ đi mua rau không cần tới học luật hợp đồng mà vẫn thực hiện được giao dịch, nhưng nó cũng phức tạp đến nỗi nhũng hãng luật nổi tiếng cũng khó có thể soạn thảo được hợp đồng thật hoàn chỉnh hay giải quyết tranh chấp giữa các đối tác2. Người giao kết hợp đồng nào tự nguyện cũng mong muốn họp đồng được phía bên kia thực hiện nghiêm chỉnh. Việc không thực hiện đúng và đầy đủ có thể gây thiệt hại cho bên kia.
Pháp luật phải có các qui tăc điêu chỉnh vê sự việc gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra. Vân đê ở đây là phải nghiên cún trước hết từ họp đồng. Chế định họp đồng có trong tất cả các hệ thống pháp luật và giữ vai trò trung tâm của pháp luật dân sự và thương mại. Họp đồng có bản chất là sự thỏa thuận hay thống nhất ý chí nhằm xác lập nên một hệ quả pháp lý, hoặc nói khác đi là làm phát sinh, thay đối hay chấm dứt 1 Ngô Huy Cương, Giáo trình luật hợp đồng phần chung (dùng cho đào tạo sau đại học), Nxb.
Đại học Quốc gia Hà nội, năm 2013, trang 7. 2 Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết, Nguyền Hồ Bích Hằng, Luật dân sự Việt Nam, Nxb. Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh, trang 304.
5 một quan hệ pháp luật, cũng có thê nó làm phát sinh, thay đôi hay châm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Bộ luật Dân sự năm 2015, tại Điều 385 định nghĩa “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Khi A giao kết hợp đồng với B, tùy theo loại hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của một hay các bên phát sinh, thay đối hoặc chấm dứt. Ví dụ: Nếu đó là họp đồng mua bán tài sản, thì hợp đồng đó là căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ của bên bán phải chuyển giao tài sản và quyền sở hữu tài sản cho bên mua; và ngược lại bên mua có quyền yêu cầu người bán phải thực hiện những nghĩa vụ đó và có nghĩa vụ phải chi trả tiền mua tài sản đó.
Quyền và nghĩa vụ của các bên trong họp đồng này đối nghịch lại với nhau. Còn trong họp đồng tặng cho tài sản không có điều kiện, thì bên tặng cho phải có nghĩa vụ thông báo về các khuyết tật của tài sản tặng cho và bên được tặng cho không có nghĩa vụ chi trả lợi ích gi cho bên tặng cho để đổi lấy quyền sở hữu tài sản. Căn cứ theo những tiêu chí khác nhau, hợp đồng có thể phân loại khác nhau. Theo dung lượng của nghĩa vụ, hợp đồng có thể phân loại thành hợp đồng đon vụ và hợp đồng song vụ.
Hợp đồng đon vụ là loại họp đồng mà chỉ có một bên có nghĩa vụ đối với bên kia. Họp đồng song vụ là họp đồng mà các bên có nghĩa vụ với nhau. Thông thường trong việc điều chỉnh họp đồng, luật dân sự điều chỉnh tất cả các loại hợp đồng. Luật thương mại chủ yếu điều chỉnh họp đồng song vụ có đền bù.
Đây là điểm khác biệt duy nhất để cấu tạo nên các chế tài do vi phạm họp đồng vì chế tài chung cho các vi phạm nghĩa vụ họp đồng chính là các chế tài nêu trong trách nhiệm dân sự, còn chế tài đặc thù cho loại họp đồng song vụ có đền bù thường nêu trong các qui định riêng về hợp đồng song vụ có đền bù. Tuy nhiên trước kia, Bộ luật Dân sự năm 1931 của Bắc Kỳ 6 điêu tiêt chung cả quan hệ dân sụ và quan hệ thương mại nên sự chia tách chê tài do vi phạm hợp đồng dân sự và thương mại riêng không được chú ý. Pháp luật của nước ta hiện nay có sự chia tách giữa Luật dân sự và Luật thương mại cho nên có việc chia tách chế tài dân sự và thương mại riêng nhưng có gốc chung là Luật dân sự. Bộ luật Dân sự năm 2015 qui định trong Điều 1: “Bộ luật này quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý về cách ứng xừ của cá nhân, pháp nhân; quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự)”.
Như vậy Luật thương mại cũng phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản mà Bộ luật này nêu ra trong Điều 3. Điều này cho thấy khi nói đến chế tài do vi phạm họp đồng là nói chung về các loại chế tài do vi phạm hợp đồng chứ không chỉ nói tới chế tài do vi phạm hợp đồng dân sự hay hợp đồng thương mại. Trong cơ cấu các căn cứ làm phát sinh ra quan hệ nghĩa vụ thì hợp đồng là căn cứ chủ yếu. Điều 275, Bộ luật Dân sự năm 2015 qui định: “Nghĩa vụ phát sinh từ căn cứ sau đây: 1.
Hành vi pháp lý đơn phương; 3. Thực hiện công việc không có uỷ quyền; 4. Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật; 5. Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật; 6.
Căn cứ khác do pháp luật quy định”. Phần thứ ba của Bộ luật Dân sự 2015 gắn với nghĩa vụ và họp đồng vào tên gọi của phần này dù nghĩa vụ không phải là căn cứ duy nhất làm phát sinh ra 7 nghĩa vụ. Tên của Phân thứ ba là “Nghĩa vụ và hợp đông” thê hiện Bộ luật Dân sự năm 2015 đã đánh giá cao tầm quan trọng bậc nhất của họp đồng so với các căn cứ khác làm phát sinh ra nghĩa vụ. Điều luật này nhằm tới việc xác định hợp đồng được giao kết làm phát sinh ra quan hệ nghĩa vụ dân sự.
Đây là một loại quan hệ pháp luật dùng để chỉ mối quan hệ chung phát sinh từ bất kỳ loại hợp đồng nào chứ không thể phân biệt nghĩa vụ dân sự hay nghĩa vụ thương mại vi thuật ngữ “nghĩa vụ dân sự” trong trường họp này dùng đế phân biệt với “nghĩa vụ tự nhiên” và “nghĩa vụ đạo đức”3. Nghĩa vụ được hiếu là quan hệ giữa bên có quyền và bên có nghĩa vụ theo đó bên có nghĩa vụ phải tiến hành một việc (theo nghĩa rộng) nhất định vì lợi ích của bên có quyền4. Nghĩa vụ được định nghĩa theo Điều 274, Bộ luật Dân sự năm 2015 là “. việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vi lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)”.
Định nghĩa này nói tới quan hệ nghĩa vụ và đối tượng của nghĩa vụ. Quan hệ nghĩa vụ theo định nghĩa này là một quan hệ gồm có hai bên. Một bên có quyền yêu cầu và một bên có nghĩa vụ. Bên có quyền yêu cầu là bên có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện một đối tượng họp pháp vì lợi ích của bên có quyền yêu cầu.
Đối tượng đó được mô tả bao gồm: chuyển giao vật; chuyển giao quyền; trả tiền hoặc giấy tờ có giá; thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định. Ví dụ: họp đồng mua bán hàng hóa làm phát sinh ra 3 Ngô Huy Cương, Giáo trình luật hợp đồng phần chung (dùng cho đào tạo sau đại học), Nxb. Đại học Quốc gia Hà nội, năm 2013, trang 43. 4 Đồ Văn Đại, Luật nghĩa vụ dân sự và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự- Bản án và bình luận bản án, Tập 1, Nxb.
Chính trị Quốc gia, trang 23. 8 nhiêu nghĩa vụ, trong đó có một loại nghĩa vụ là người mua cỏ quyên yêu câu người bán phải chuyển giao vật là hàng hóa cho mình; đồng thời làm phát sinh ra quan hệ nghĩa vụ là người bán có quyền yêu cầu người mua trả tiền mua hàng hóa cho mình. Các phân tích này đi đến kết luận: Hợp đồng là sự thỏa thuận làm phát sinh, thay đối hoặc chấm dứt nghĩa vụ dân sự; quan hệ nghĩa vụ buộc phải thực hiện. Nghĩa vụ phân chia thành nghĩa vụ đạo đức, nghĩa vụ tự nhiên và nghĩa vụ dân sự.
Chỉ nghĩa vụ dân sự mới bị pháp luật cưỡng chế thực hiện5. Họp đồng được Bộ luật Dân sự 2015 qui định là một loại nguồn của pháp luật có thứ tự uư tiên áp dụng trên cả văn bản qui phạm pháp luật theo Điều 6. Suy diễn ra rằng họp đồng có chứa đựng các qui tắc xử sự mà Nhà nước thừa nhận và buộc phải thực hiện trong quan hệ giữa các bên. Theo đó pháp luật hợp đồng chỉ có những đặc điềm là: + Luật hợp đồng mang tính chất luật tư điển hình; + Luật hợp đồng là một luật hỗ trợ; + Luật họp đồng là một luật không đầy đủ6.
Với các đặc điểm này, pháp luật có cách tiếp cận với chế tài do vi phạm họp đồng khác với chế tài hành chính hay chế tài hình sự vì sự khác nhau chủ yếu là Luật hành chính và Luật hình sự là luật công có các qui định mang tính chất áp đặt và chế tài cũng do Nhà nước áp đặt, các bên không có sự lựa chọn như trong luật họp đồng.