CHƯƠNG 1 KHÁI LUẬN CHUNG VỀ PHẠT VI PHẠM TRONG PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của chế tài phạt vi phạm trong pháp luật thương mại Việt Nam 1. Khái niệm chế tài phạt vi phạm trong thương mại Điều 300 LTM năm 2005 quy định: “Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm…”. Về nguyên tắc, phạt vi phạm là một biện pháp chế tài trong LTM 2005 của Việt Nam.
Về lý luận, chế tài được hiểu là một trong những biện pháp quan trọng để đảm bảo cho các quy định của pháp luật được thực hiện nghiêm minh. Chế tài là một biện pháp trừng phạt mà các chủ thể có thẩm quyền áp dụng đối với các chủ thể vi phạm 1 pháp luật. Chế tài theo định nghĩa được nêu trong Từ điển Tiếng Việt đó là “Biện pháp cưỡng chế nhà nước có thể được áp dụng nhằm đảm bảo việc thực hiện các quy 2 định của pháp luật”. Phạt vi phạm là chế tài tiền tệ nhằm trừng phạt, phòng ngừa vi 3 phạm hợp đồng giữa các bên, đảm bảo sự lành mạnh trong quan hệ hợp đồng.
Chế tài phạt vi phạm mang tính chất dân sự nhiều hơn và không mang tính chất cưỡng chế can thiệp của nhà nước cho đến khi phát sinh tranh chấp. Chế tài phạt vi phạm là một dạng trách nhiệm vật chất bất lợi được đặt ra để đảm bảo việc thực hiện hợp đồng theo thỏa thuận giữa các bên được thực hiện một cách nghiêm túc. Bất kỳ hành vi vi phạm hợp đồng nào nếu có thỏa thuận đều bị áp dụng chế tài này bởi bên bị vi phạm. Thỏa thuận về chế tài phạt vi phạm là một thỏa thuận dân sự, vì thế thỏa thuận phạt vi phạm phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của một thỏa 4 thuận dân sự theo quy định của BLDS hiện hành.
Việc có thỏa thuận phạt vi phạm trong hợp đồng là một điều kiện tiên quyết để các chủ bên có thể áp dụng chế tài phạt vi phạm. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận về vấn đề phạt vi phạm trong hợp đồng, nếu có hành vi vi phạm hợp đồng xảy ra thì sẽ không được quyền 5 yêu cầu phạt vi phạm. 1 Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb. CAND Hà Nội, tr.
2 Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. 3 Thanh Huyền (2017), “Phạt vi phạm trong kinh doanh thương mại”, Tạp chí Kiểm sát, số 04/2017, tr. 4 Điều 117 BLDS năm 2015 5 Vấn đề này sẽ được giải thích cụ thể tại Mục 1.2 của khóa luận. 7 Nếu như thỏa thuận về vấn đề phạt vi phạm là một điều kiện cần tiên quyết của việc áp dụng chế tài này thì việc có hành vi vi phạm hợp đồng của các bên được xem là điều kiện đủ để phát sinh yêu cầu phạt vi phạm.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “Hành vi là cách cư xử trong một hoàn cảnh nhất định được biểu thị bằng lời nói, cử chỉ, hành 6 7 động nhất định” , “Vi phạm là làm trái các quy định”. Khoản 12 Điều 3 LTM năm 2005 cũng đưa ra định nghĩa một cách đầy đủ về vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật Thương mại năm 2005. Như vậy dấu hiệu của vi phạm hợp đồng là không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ các nghĩa vụ hợp đồng. Tuy nhiên không phải bất cứ hành vi vi phạm hợp đồng nào cũng đều là điều kiện để phát sinh quyền yêu cầu áp dụng chế tài phạt vi phạm.
Điều 294 LTM năm 2005 quy định về các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm. Quy định về miễn trách nhiệm này được xem là một cứu cánh đối với bên vi phạm trong trường hợp họ vi phạm hợp đồng với nguyên nhân rơi vào các trường hợp miễn trách nhiệm được quy định. Bất kỳ hành vi vi phạm hợp đồng nào nếu chứng minh được thuộc trường hợp miễn trách nhiệm thì chế tài phạt vi phạm xem như được miễn. Với quy định trong LTM năm 2005, chế tài phạt vi phạm là một loại chế tài mang tính chất bổ sung và hoàn toàn độc lập với các loại chế tài khác.
Chế tài phạt vi phạm có chức năng quan trọng trong việc đảm bảo hợp đồng được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, có tính chất răn đe hạn chế những hành vi vi phạm hợp đồng xảy ra. Khi một hành vi vi phạm hợp đồng phát sinh, chế tài phạt vi phạm được xem một một hình thức trừng phạt đối với bên vi phạm. Điều này rõ ràng phân biệt được giữa tình chất của chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại. Đều là những chế tài về tiền tệ, đều phát sinh do có hành vi vi phạm hợp đồng xảy ra, tuy nhiên đối với chế tài bồi thường thiệt hại lại mang tính chất bồi thường, khắc phục những tổn thất xảy ra trên thực tế do hành vi vi phạm gây ra hơn là răn đe, trừng phạt.
Một điểm quan trọng nữa đó là theo quy định của LTM năm 2005, chế tài phạt vi phạm chỉ phát sinh khi có thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng. Còn chế tài bồi thường thiệt hại là một loại chế tài được áp dụng một cách đương nhiên nếu chứng minh được thiệt hại trên thực tế. Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng chế tài phạt vi phạm trong thương mại là một loại chế tài được các chủ thể thỏa thuận với nhau trong hợp đồng nhằm mục đích chủ yếu là đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng được diễn ra đúng thỏa 6 Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam (1999), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb. Văn hóa – Thông tin, tr.
7 Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam, tlđd (6), tr. 8 thuận, ngăn ngừa, răn đe và trừng phạt đối với những hành vi vi phạm hợp đồng. Theo đó, bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng sẽ phải phải trả một khoản tiền cho bên bị 8 vi phạm. Đặc điểm của chế tài phạt vi phạm trong thương mại Chế tài phạt vi phạm trong thương mại có những đặc trưng pháp lý mang bản chất của một chế tài dân sự.
Tác giả đưa ra năm đặc điểm cơ bản của chế tài phạt vi phạm trong thương mại cụ thể như sau: Thứ nhất, chế tài phạt vi phạm là một loại chế tài trong thương mại, được quy định trong LTM. Đây là một loại chế tài mang tính thỏa thuận, tùy nghi. LTM năm 2005 quy định chỉ phát sinh chế tài phạt vi phạm nếu như trong hợp đồng có thỏa thuận 9 về loại chế tài này. “Điều này có ý nghĩa để phân biệt với những trách nhiệm vật chất 10 ngoài hợp đồng khác”.
Chế tài phạt vi phạm được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng nhằm đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng. Thỏa thuận về chế tài phạt vi phạm trong hợp đồng giữa các bên là một loại thỏa thuận dân sự, được hình thành trên nguyên tắc tự nguyện và bình đẳng giữa các bên trong khuôn khổ của pháp luật. Ý chí của các bên trong quan hệ thỏa thuận này hoàn toàn độc lập. Điều 385 BLDS năm 2015 quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên trong việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Có thể thấy chế tài phạt vi phạm được thỏa thuận trong hợp đồng là một loại nghĩa vụ dân sự. Tuy nhiên đây là một dạng nghĩa vụ dân sự “có điều kiện”, nghĩa vụ này chỉ phát sinh khi có một bên có hành vi vi phạm hợp đồng là hành vi áp dụng chế tài phạt vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng trước đó. Pháp luật thương mại Việt Nam hiện nay coi phạt vi phạm là một trong những điều khoản của 11 hợp đồng nhưng không phải là điều khoản bắt buộc. Thứ hai, chế tài phạt vi phạm được áp dụng khi có hành vi vi phạm hợp đồng theo thỏa thuận.
Trong điều khoản phạt vi phạm được các bên thỏa thuận sẽ có quy định về hành vi vi phạm nào mà một khi nó xảy ra, bên vi phạm phải chịu phạt vi phạm. Điều này có nghĩa rằng không phải bất cứ hành vi vi phạm hợp đồng nào cũng sẽ bị phạt vi phạm. Ví dụ trong hợp đồng mua bán hàng hóa giữa hai thương nhân A và B có thỏa thuận phạt vi phạm như sau: “Bên A có nghĩa vụ giao hàng với số lượng 8 Quy định này sẽ bị loại trừ trong “các trường hợp miễn trừ trách nhiệm”, bên cạnh đó về mức phạt, căn cứ phạt… sẽ được trình bày ở các nội dung sau của khoá luận. 10 Mai Thị Thảo (2019), Chế tài phạt vi phạm theo quy định của Luật Thương mại năm 2005, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, tr.
11 Thanh Huyền, tlđd(3), tr. 9 đúng như đã thỏa thuận. Trong trường hợp giao thiếu hàng, trong vòng năm ngày kể từ ngày kết thúc đợt giao hàng mà bên A không bổ sung kịp sẽ phải chịu phạt vi phạm tương đương 8% giá trị phần hàng giao thiếu”. Như ví dụ trên, giả sử A là bên giao hàng đã giao đầy đủ số lượng hàng như thỏa thuận, tuy nhiên lại chậm trễ hai ngày so với thỏa thuận về thời gian giao hàng, lúc này mặc dù có thỏa thuận phạt vi phạm nhưng B không có quyền yêu cầu phạt vi phạm với A.
Bởi lý do thỏa thuận phạt vi phạm chỉ đề cập đến hành vi giao thiếu hàng mới phải chịu phạt chứ không có bất cứ thỏa thuận phạt nào đối với việc giao hàng chậm trễ. Pháp luật Việt Nam quy định về hành vi vi phạm hợp đồng cụ thể tại khoản 12 Điều 3 LTM năm 2005 như sau: “Vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của luật này”. Quy định này cũng như những vấn đề khác liên quan đến quy định về hành vi vi phạm là căn cứ để phạt vi phạm sẽ được phân tích và làm rõ trong Mục 1.1 của khóa luận này. Thứ ba, chế tài phạt vi phạm là một dạng trách nhiệm vật chất – mang tính tài sản.