Chương 1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về chế định thời hiệu trong luật hình sự Việt Nam 1. Lược khảo về chế định thời hiệu trong luật hình sự Việt Nam Nghiên cứu lịch sử tồn tại và phát triển pháp luật hình sự Việt Nam, mà cụ thể là chế định thời hiệu cho thấy chế định này đã xuất hiện từ rất sớm. Ngay trong thời kỳ Pháp thuộc, các nhà làm luật Trung Kỳ đã sớm ghi nhận nguyên tắc không truy cứu trách nhiệm hình sự và không thi hành bản án kết tội sau một khoảng thời gian nhất định: “thể lệ đặt ra cấm không được truy cứu hay thi hành một tội danh đã không xử đoán sau một thời gian đã định trong luật”[11], và đây được coi là tiền thân của chế định thời hiệu trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay. Sau khi đất nước ta dành được độc lập, tự do, xuất phát từ nhiệm vụ của giai đoạn cách mạng mới – giai đoạn cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội, Nhà nước ta đã xây dựng và ban hành Bộ luật hình sự năm 1985.
Đây là một sự kiện chính trị – pháp lý quan trọng, là một yếu tố đưa đến sự hoàn thiện tổng thể hệ thống pháp luật nước ta lúc này và góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược mà Đảng và Nhà nước ta đề ra là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đồng thời tăng cường pháp chế, giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Sau đó, xuất phát từ yêu cầu thực tế của xã hội, Bộ luật hình sự năm 1985 đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1989 (liên quan đến 27 điều), năm 1991 (liên quan đến 26 điều), năm 1992 (liên quan đến 17 điều), năm 1997 (bổ sung thêm 31 điều hoàn toàn mới) – gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 1985 đã được sửa đổi, bổ sung. Trong Bộ luật này, nhà làm luật nước ta đã chính thức ghi nhận chế định thời hiệu tại ba điều luật: Điều 45 – Thời 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, Điều 46 – Thời hiệu thi hành bản án, Điều 47 – Không áp dụng thời hiệu. Tuy nhiên, nhược điểm ở đây là khái niệm thế nào là thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thế nào là thời hiệu thi hành bản án vẫn chưa được đưa ra, tại Điều 45 và Điều 46 chỉ đề cập đến vấn đề không truy cứu trách nhiệm hình sự khi nào và không buộc người bị kết án phải chấp hành bản án khi nào: “Không truy cứu trách nhiệm hình sự nếu tính từ ngày tội phạm được thực hiện đã qua những thời hạn sau đây: a) 5 năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng mà Bộ luật quy định hình phạt từ 2 năm tù trở xuống hoặc hình phạt khác nhẹ hơn; b) 10 năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng mà Bộ luật quy định hình phạt tù trên 2 năm; c) 15 năm đối với các tội phạm nghiêm trọng…” (Điều 45.
Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự); “Không buộc người bị kết án phải chấp hành bản án, nếu tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đã qua những thời hạn sau đây: a) 5 năm đối với các trường hợp xử phạt từ 5 năm tù trở xuống; b) 10 năm đối với các trường hợp xử phạt tù trên 5 năm đến 15 năm; c) 15 năm đối với các trường hợp xử phạt tù từ trên 15 năm đến 20 năm…” (Điều 46. Thời hiệu thi hành bản án). Do vậy, so với Bộ luật hình sự năm 1985, chế định thời hiệu trong Bộ luật hình sự năm 1999 hiện nay của chúng ta đã được xây dựng theo hướng hợp lý hơn, hoàn chỉnh hơn: Lần đầu tiên định nghĩa pháp lý của khái niệm thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và của khái niệm thời hiệu thi hành bản án hình sự đã được đề cập tại Bộ luật hình sự năm 1999, ngoài ra các mức thời hạn khác nhau tương ứng với các loại tội phạm trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, và tương ứng với các loại hình phạt và mức hình phạt trong thời hiệu thi hành bản án kết tội cũng được quy định rõ ràng và tỉ mỉ hơn,.v… 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngày nay, công nghệ thông tin ngày càng phát triển, trên các trang web luật học thường xuất hiện những câu hỏi của người dân và những câu trả lời tư vấn của các nhà luật học về những quyền lợi và nghĩa vụ mà người dân được hưởng và phải thực hiện, một trong số đó là việc hưởng chế định nhân đạo khi hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu thi hành bản án hình sự [15, 16]. Điều đó đã giúp chúng ta phần nào hiểu rằng: Cuộc sống luôn vận động không ngừng đòi hỏi chúng ta phải luôn luôn suy nghĩ, tìm ra các giải pháp ngày càng hợp lý và hoàn thiện hơn cho chế định thời hiệu nói riêng và pháp luật hình sự nói chung để bắt kịp (nếu có thể: dự đoán trước) những nhu cầu mà xã hội đặt ra và hướng tới.
Khái niệm, bản chất pháp lý và các đặc điểm cơ bản của chế định thời hiệu trong luật hình sự Việt Nam Nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm là một trong những nguyên tắc cơ bản trong pháp luật hình sự nước ta. Khoản 1 Điều 3 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “Mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật”; Điều 1 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định: “Xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt người phạm tội, không làm oan người vô tội”, …Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu đồng nhất nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm với việc phải áp dụng hình phạt hoặc các biện pháp pháp lý hình sự khác đối với bất cứ tội phạm nào. Vì mục đích của hình phạt hay các biện pháp pháp lý hình sự khác không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội, mà cốt lõi là nhằm giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, biết tuân theo pháp luật, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Như vậy nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm không loại trừ những quy định về chế định thời hiệu, mà trái lại, sự tồn tại của chế định thời hiệu càng khẳng định rõ tính nhân đạo trong nguyên tắc này.
15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, các nhà làm luật không đưa ra định nghĩa pháp lý thế nào là thời hiệu mà chỉ đưa ra định nghĩa cho hai yếu tố cấu thành nên chế định này, đó là thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu thi hành bản án hình sự tương ứng tại khoản 1 Điều 23 và khoản 1 Điều 55 của Bộ luật. Tuy nhiên, chính căn cứ vào các khái niệm nhỏ này, đồng thời tổng hợp quan điểm của các nhà khoa học, tập thể tác giả Bộ môn Tư pháp hình sự của Khoa luật trực thuộc Đại học quốc gia Hà Nội do TSKH. Lê Cảm chủ trì đã đưa ra định nghĩa khoa học cho chế định này mà theo quan điểm của chúng tôi là hoàn toàn hợp lý, như sau: “Thời hiệu trong luật hình sự là một chế định phản ánh nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự và được thể hiện bằng việc quy định trong pháp luật hình sự một thời hạn nhất định mà khi hết thời hạn đó, thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự và người bị kết án không phải chấp hành bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đã được tuyên”[11] Từ định nghĩa khoa học này, chúng ta có thể rút ra những đặc điểm của chế định thời hiệu như sau: Thứ nhất, đây là một chế định phản ánh nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự, kết luận này đúng vì bản thân sự tồn tại chế định thời hiệu trong luật hình sự Việt Nam đã đưa đến cho người thực hiện tội phạm hy vọng có thể được miễn việc truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không phải chấp hành bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đã được tuyên nếu như người phạm tội đó đáp ứng được đầy đủ căn cứ pháp lí chung và những điều kiện cụ thể do pháp luật hình sự quy định (mà sẽ được phân tích chi tiết tại chương 2 dưới đây). Thứ hai, thời hiệu trong pháp luật hình sự chính là một khoảng thời gian nhất định.
Trong khoảng thời gian đó, các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền của Nhà nước bao gồm: cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Toà án 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và cơ quan thi hành án hình sự được Nhà nước trao cho quyền truy cứu trách nhiệm hình sự và thi hành bản án kết tội đối với người thực hiện tội phạm theo quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Còn nếu nằm ngoài khoảng thời gian đó thì các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền của Nhà nước không còn những quyền này nữa, đồng thời người phạm tội hoặc người bị kết án thoả mãn đầy đủ các điều kiện luật định (được định cụ thể tại khoản 3 Điều 23 và khoản 3 Điều 55) thì điều đó đồng nghĩa với việc người phạm tội sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa và người bị kết án cũng không phải chấp hành bản án đã tuyên. Ví dụ: trên một trang web của Sài Gòn, có một bạn hỏi rằng: vào năm 1977, Toà án Việt Nam đã kết án bạn 25 năm tù , nhưng trong lúc toà xử thì bạn đó đã sang Mĩ. Vậy cho đến nay, bạn có còn phải chấp hành bản án đó nữa không (?).
Luật sư Trịnh Đình Ban đã trả lời câu hỏi với nội dung như sau: khoảng thời gian từ năm 1977 đến nay đã hết thời hiệu thi hành bản án kết tội, do đó bạn sẽ không phải thi hành án với điều kiện trong khoảng thời gian 15 năm tính từ năm 1977 bạn không phạm tội mới, hay không cố tình trốn tránh và không có lệnh truy nã [15].