Chương 1: Một số vấn đề lý luận về vi bằng và lập vi bằng của Thừa phát lại Chương 2: Thực trạng pháp luật về lập vi bằng của Thừa phát lại ở Việt Nam hiện nay Chương 3: Thực tiễn thực hiện các quy định về lập vi bằng của Thừa phát lại tại một số tỉnh/thành phố và kiến nghị 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VI BẰNG VÀ LẬP VI BẰNG CỦA THỪA PHÁT LẠI 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò vi bằng của Thừa phát lại 1. Khái niệm vi bằng của Thừa phát lại Qua nghiên cứu, tìm kiếm tại các từ điển tiếng Việt [61] và từ điển chuyên môn về pháp luật [25],[56],[62] đư c xuất bản những năm gần đây đều không thấy đề cập đến thuật ngữ “vi bằng”. Bởi vậy, để hiểu thế nào là vi bằng buộc phải tra cứu các từ điển ngoại ngữ khác.
Theo Từ điển Hán Nôm [30] thì thuật ngữ “vi bằng” có gốc là từ chữ Trung Quốc 爲憑 trong đó 爲) có nghĩa là hành vi và (憑 có nghĩa là bằng chứng, ghép 2 từ trên có nghĩa là làm chứng cứ để tin. Tuy trong các từ điển tiếng Việt và từ điển chuyên môn về pháp luật không có sự giải thích thế nào là “vi bằng”, nhưng trong quá trình tái lập hoạt động của TPL thì thuật ngữ này đã đư c sử dụng rộng rãi ở miền Nam trước năm 1975 với tên gọi là “chứng thư” và có cùng nội hàm với thuật ngữ “vi bằng”. Theo đó đư c hiểu là các giấy tờ văn bản, biên bản do TPL lập ra trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình theo thể thức luật định, nhằm ghi nhận những sự kiện xảy ra trong đời sống xã hội và có giá trị chứng cứ, công chứng thư nghĩa là có giá trị về tất cả những sự kiện nêu trong đó như về ngày tháng, chứng thư không thể bị bác bỏ bằng một chứng thư khác mà chỉ có thể bị coi là giả mạo sau khi cơ quan có thẩm quyền điều tra và kết luận theo thủ tục do luật định). Như vậy, trước năm 1975, thuật ngữ “vi bằng” xuất hiện cùng với thuật ngữ “Thừa phát lại” và đư c ghi nhận trong: “Bộ dân sự tố tụng Nam Việt”, ban hành kèm Nghị định ngày 16/3/1910 (Nam Kỳ ; “Bộ dân luật 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trung năm 1936 - 1939”, ban hành kèm Bộ hộ sự, thương sự tố tụng Trung Việt năm 1942 Trung Kỳ); “Bộ dân luật Bắc năm 1931”, ban hành kèm Bộ dân sự tố tụng Bắc năm 1917 Bắc Kỳ); Nghị định 111/BTP-NĐ ngày 04/02/1950 của Bộ Tư pháp; Bộ luật Dân sự và thương sự tố tụng năm 1972 (thay thế Bộ dân sự tố tụng Nam Việt ngày 16/3/1972) [4].
Với ý nghĩa là một trong những công việc đư c giao cho TPL thực hiện theo yêu cầu của Tòa án (lục tống về tư pháp hoặc theo yêu cầu của cá nhân, t chức xã hội, công ty hoặc đơn vị hành chính (lục tống không thuộc tư pháp nhằm thông báo, đốc thúc, sưu tầm, lập vi bằng) công chứng các hành vi xâm phạm đến quyền l i để xác định các sự kiện thực tế, các sự biểu lộ ý chí của đương tụng hoặc cá nhân trong các mối quan hệ xã hội để xác lập các chứng cứ dùng làm cơ sở để giải quyết các tranh chấp… Theo nội dung các văn bản trên, vi bằng đư c lập có thể do yêu cầu của Tòa án nhằm giải quyết các vụ việc hoặc đư c lập theo yêu cầu của các t chức và cá nhân nhằm phòng ngừa, hoặc dùng để giải quyết các tranh chấp trong tương lai nếu xảy ra). Như vậy phạm vi lập vi bằng rất đa dạng và có tầm quan trọng đặc biệt trong việc cung cấp chứng cứ. Ví dụ: - Trong trường h p vi bằng đư c lập theo yêu cầu của t chức, cá nhân: trường h p hai chủ nhà lân cận đang sử dụng bức tường chung mà một bên đã tự ý đập phá bức tường thì vi bằng công chứng (biên bản) của TPL lập theo yêu cầu của phía bên kia sẽ xác định mức độ đập phá và thiệt hại đã đư c công chứng ngay vào ngày xảy ra sự kiện, thì khi vụ việc đư c đưa ra Tòa án để xét xử, bên có lỗi sẽ không thể phủ nhận đư c mức độ thiệt hại đã đư c vi chứng. - Trong trường h p vi bằng đư c lập theo yêu cầu của Tòa án, ph biến là yêu cầu lập vi bằng để thực hiện các yêu cầu liên quan đến thi hành các bản án của Tòa án như TPL giao việc trông giữ các tài sản thi hành án cho con n , 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hay nếu người này vắng mặt hoặc từ chối, cho một người nào khác do TPL lại lựa chọn.
Người giữ đồ sẽ ký tên vào bản chính và bản sao; nếu không biết ký, sự kiện này sẽ đư c ghi trong vi bằng. Tiếp tục kế thừa những quy định về “vi bằng” trong những văn bản pháp lý trước năm 1975, Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 đư c sửa đ i, b sung bởi Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 của Chính phủ về t chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại một số tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương sau đây gọi chung là Nghị định số 61/2009/NĐ-CP), tại khoản 1 Điều 2 quy định: “Vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác”. Như vậy, có thể hiểu vi bằng là tài liệu bằng văn bản [15; Đ27] (kèm theo vi bằng có thể có hình ảnh, bằng hình và các tài liệu chứng minh khác [15; Đ27]. Trong đó, TPL sẽ mô tả, ghi nhận lại những hành vi, sự kiện mà do chính TPL chứng kiến một cách trung thực, khách quan.
Đồng thời, có giá trị nguồn chứng cứ trước Tòa án nếu các bên có phát sinh tranh chấp liên quan đến sự kiện, hành vi đã đư c lập vi bằng hoặc làm bằng chứng cho các quan hệ pháp lý khác. Có thể đưa ra định nghĩa vi bằng như sau: Vi bằng là văn bản do Thừa phát lại lập theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục và hình thức pháp luật quy định để ghi nhận những sự kiện, hành vi có thật nhằm tạo lập chứng cứ dùng trong hoạt động xét xử của Tòa án và trong các quan hệ pháp lý khác của tổ chức và cá nhân. Đặc điểm vi bằng của Thừa phát lại Từ định nghĩa về vi bằng nêu trên, có thể đưa ra một số đặc điểm chính như sau: Thứ nhất, vi bằng do Thừa phát lại lập 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Qua rà soát, tìm hiểu quy định của pháp luật hiện hành, chủ thể có thẩm quyền lập vi bằng duy nhất chỉ có Thừa phát lại – người có các tiêu chuẩn, đư c Nhà nước b nhiệm và trao quyền để làm các công việc theo quy định của pháp luật. Hiện nay, tồn tại một số văn bản mang bản chất là một loại biên bản ghi nhận sự kiện, hành vi như: văn bản chứng thực của tư pháp xã, phường; văn bản công chứng của công chứng viên; biên bản ghi nhận hành vi vi phạm của cơ quan, cá nhân có thẩm quyển xử lý vi phạm hành chính;… Tuy nhiên, mục đích của việc lập các loại văn bản trên khác nhau và đư c giao cho các chủ thể khác nhau để thực hiện nên không thể coi đó là vi bằng mà có những tên gọi cụ thể riêng biệt.
Đặc điểm về chủ thể có thẩm quyền lập vi bằng là đặc điểm quan trọng giúp phân biệt vi bằng với các loại văn bản, giấy tờ pháp lý khác. TPL là người đư c Nhà nước b nhiệm theo những điều kiện, tiêu chuẩn chặt chẽ liên quan đến trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp nhằm đảm bảo khả năng ghi nhận các sự kiện, hành vi một cách khách quan và trung thực. Nếu loại bỏ dấu hiệu chủ thể thì vi bằng về bản chất là một loại biên bản ghi nhận sự kiện, hành vi giống như nhiều loại biên bản khác. Thứ hai, vi bằng có giá trị chứng cứ Vi bằng là văn bản do TPL lập, ghi nhận sự kiện, hành vi đư c dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác.
Với mục đích sử dụng vi bằng làm chứng cứ trong xét xử và các quan hệ pháp lý khác thì vi bằng cũng phải thỏa mãn các thuộc tính của chứng cứ theo quy định của pháp luật tố tụng. Theo quy định tại Điều 93, BLTTDS năm 2015: “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp”. Theo đó, để đư c coi là chứng cứ, vi bằng phải bao gồm các thuộc tính bao gồm: tính khách quan, tính liên quan và tính h p pháp [57]. Cụ thể: Tính khách quan, đư c thể hiện trong nội dung của vi bằng ghi nhận sự kiện, hành vi phải có thật, tồn tại ngoài ý muốn của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng.
Các chủ thể tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng có thể thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ nhưng không thể tạo ra chứng cứ. Việc nghiên cứu, xem xét tính khách quan của vi bằng dưới góc độ là chứng cứ giúp quá trình giải quyết vụ việc đư c nhanh chóng, chính xác dựa trên phân tích đúng đắn về bản chất sự của thật khách quan đã diễn ra. Về tính liên quan, vi bằng đư c coi là chứng cứ khi vi bằng và vụ việc có mối liên hệ nhất định. Qua đó, Tòa án có thể xác định đư c những thông tin, tình tiết, sự kiện liên quan, có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ việc đồng thời sàng lọc, loại bỏ những thông tin, tình tiết, sự kiện không liên quan, không có ý nghĩa.
Việc xem xét tính liên quan của chứng cứ sẽ hạn chế việc tốn thời gian khi xem chứng cứ, đánh giá không có giá trị, đảm bảo việc giải quyết vụ việc đư c nhanh chóng và đúng đắn.