mở đầu cho những quy định điều chỉnh những quan hệ phát sinh sau này liên quan đến hôn nhân và gia đình. KHÁI QUÁT SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CHẾ ĐỊNH KẾT HÔN TRONG PHÁP LUẬT VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM 1. Chế định kết hôn trong cổ luật Việt Nam Ngay từ thời cổ luật, vấn đề hôn nhân và gia đình đã được chú ý quan tâm khi các triều đại vua chúa ngày xưa xây dựng luật. Dưới thời phong kiến có hai bộ luật được coi là tiêu biểu đó là Quốc triều hình luật (Quốc triều hình luật) của Triều Lê và Hoàng Việt luật lệ của Triều Nguyễn.
- Quốc triều hình luật (còn gọi là bộ Luật Hồng Đức) được ban hành dưới Triều Lê niên hiệu Hồng Đức (1470-1497) Theo các nhà nghiên cứu thì không xác định chính xác được thời điểm công bố bộ luật mà chỉ có thể xác định được trong khoảng niên hiệu Hồng Đức (1470-1497). Bộ luật này cũng được bổ sung, hiệu đính qua nhiều đời vua Triều Lê. Bộ Quốc triều hình luật có 13 chương, ghi chép trong 06 quyển (trong đó, 05 quyển có 02 chương/quyển và 01 quyển có 3 chương) gồm 722 điều. Bộ luật quy định khá đầy đủ những vấn đề của thời đại đó như: Danh lệ, cấm vệ, quân lính, điền sản, tăng bổ hương hỏa, gian thông, đạo tặc… Trong đó quy định 60 điều về Hộ hôn (hộ tịch, hộ khẩu, hôn nhân và gia đình và những tội phạm trong lĩnh vực này).
- Hoàng Việt luật lệ hay còn gọi là Bộ luật Gia Long. Lúc bấy giờ Gia Long lên ngôi ra lệnh soạn bộ luật mới để có cơ sở về pháp luật. Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành đã theo lệnh vua chủ biên bao gồm 22 quyển và 398 điều và sau đó được vua Gia Long cho ban hành chính thức vào năm 1815. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bộ luật gần như lấy nguyên mẫu là luật nhà Thanh và được sử dụng trong suốt thời kỳ nhà Nguyễn.
Cả hai bộ luật đều đã chú ý đến vấn đề hôn nhân và gia đình. Đây là sự quan tâm của giai cấp thống trị trong xã hội nhằm duy trì sự thống trị của vương triều, củng cố trật tự xã hội và chế độ gia đình gia trưởng trong xã hội phong kiến thời xưa. Vấn đề kết hôn đã được hai bộ luật này đề cập tới gồm những quy định về điều kiện kết hôn và hình thức kết hôn. * Về điều kiện kết hôn Kết hôn phải có sự đồng ý của hai bên cha mẹ.
Cả hai bộ luật đều quy định việc kết hôn chỉ được thực hiện khi có cha mẹ hoặc một người tôn thuộc đứng đầu làm chủ hôn (Điều 413 Quốc triều hình luật và Điều 94 Hoàng Việt luật lệ). Có thể coi đây là điều cơ bản nhất, loại trừ hẳn quyền tự do kết hôn của hai bên nam nữ. Điều này xuất phát từ quan điểm phong kiến cho rằng hôn nhân là quan hệ xuất phát từ quyền lợi gia đình, dòng họ nhằm giao hiếu giữa hai dòng họ và kế truyền dòng họ tông tộc. Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định trường hợp: việc kết hôn có thể do hai bên nam nữ quyết định vì họ chỉ còn bà con xa hoặc trong trường hợp họ ở xa nhà.
Kết hôn không vi phạm những điều mà pháp luật cấm. Pháp luật thời kỳ này quy định cấm kết hôn rất khắt khe nhằm mục đích bảo vệ vương quyền, trật tự đẳng cấp xã hội, đạo đức chính yếu: + Cấm kết hôn khi có tang, cha mẹ bị giam cầm, tù tội (Điều 318 Quốc triều hình luật và Điều 99 Hoàng Việt luật lệ) + Cấm kết hôn giữa những người thân thích (Điều 319 Quốc triều hình luật và Điều 100, 101, 102 Hoàng Việt luật lệ) Ngoài ra trong mỗi bộ luật còn có thêm những quy định cấm khác như: Cấm quan lại và con cháu không được lấy con gái hát xướng làm vợ (Điều 323 Quốc triều hình luật)… 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Về độ tuổi kết hôn thì cả hai bộ luật này không quy định rõ về độ tuổi cho phép hai bên nam nữ kết hôn. Nhưng trong văn bản "Hồng Đức hôn giá lễ nghi" có quy định rõ "con trai từ 18 tuổi, con gái từ 16 tuổi trở lên mới có thể thành hôn". Đây là một quy định vừa thỏa mãn được nhu cầu sớm có người chăm sóc cha mẹ, thờ phụng tổ tiên vừa tránh tệ nạn tảo hôn thường thấy ở xã hội phong kiến lúc bấy giờ.
Trong trường hợp hôn nhân vi phạm một trong các điều kiện trên đây thì hai bên kết hôn buộc phải ly dị và phải chịu những hình phạt nhất định tùy từng trường hợp cụ thể. Ví dụ theo Hoàng Việt luật lệ tại Điều 98, kết hôn khi có tang cha mẹ hoặc tang chồng thì bị tội đồ, phạt 100 trượng; Điều 99 quy định: kết hôn khi ông bà, cha mẹ bị giam tù thì bị xử biếm ba tư và vợ chồng phải phân dị, phạt 80 trượng… * Về thủ tục kết hôn Thủ tục kết hôn của cả hai bộ luật đều quy định bao gồm: hình thức đính hôn và nghi lễ kết hôn. Hình thức đính hôn: Hình thức đính hôn là cách thức để Quốc triều hình luật công nhận một cuộc hôn nhân có giá trị pháp lý. Theo đó, Quốc triều hình luật chỉ coi là đính hôn sau khi nhà trai đã nộp đủ sính lễ (gồm vàng, bạc, tiền, lụa, heo, rượu) cho nhà gái, tức là phải có sự hứa hôn của hai họ.
Việc nạp sính lễ mang tính chất long trọng cùng với sự cáo tổ trước từ đường hai họ là bằng chứng công khai và chắc chắn cho việc hứa hôn. Quốc triều hình luật cũng quy định "gả con gái đã nhận đồ sính lễ mà lại thôi không gả nữa thì phải phạt 80 trượng. Còn người con gái phải gả cho người hỏi trước" (Điều 315 - Quốc triều hình luật). Khác với Quốc triều hình luật, Hoàng Việt luật lệ quy định hình thức của sự đính hôn là các "hôn thư" hoặc tư ước.
Đó là lời cam kết của hai người chủ hôn (Điều 94 Hoàng Việt luật lệ). Hoàng Việt luật lệ cũng quy định nếu 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đã hứa hôn, có hôn thư mà đổi ý, chủ hôn nhà gái bị phạt 50 roi, người con gái vẫn phải về nhà chồng đã hứa gả. Nhà Nguyễn cũng quy định dù không "hôn thư", nhưng nhà gái đã nhận sính lễ cũng có giá trị hứa hôn. Theo Điều 108 Hoàng Việt luật lệ quy định: 5 năm sau khi nộp sính lễ, đàng gái không phạm lỗi mà đàng trai không cử hành lễ thân nghinh (lễ rước dâu) thì nhà gái được phép xin quan cấp chấp chiếu cho phép kết hôn với người khác.
Về nghi lễ kết hôn, luật nhà Nguyễn không quy định cụ thể song luật nhà Lê thì lại rất chú trọng quy định về hình thức giá thú. Hôn nhân theo luật nhà Lê gồm 4 lễ: lễ nghị hôn (nhờ mối lái đi lại bàn định), lễ định thân (mang lễ vật vấn danh đến nhà gái), lễ nạp trưng (mang sính lễ dẫn cưới đến nhà gái), lễ thân nghinh (rước dâu). Nghi lễ kết hôn thời kỳ này đã phản ánh rất rõ phong tục tập quán của người Việt Nam ta và cho đến ngày nay, nhiều nghi lễ vẫn còn được gìn giữ thực hiện. Có thể thấy, hai bộ luật đã có nhiều điểm tiến bộ, tuy Hoàng Việt luật lệ không đề cao địa vị của người phụ nữ bằng Quốc triều hình luật, song so với lúc bấy giờ, vai trò của người con gái - người phụ nữ đã được xã hội ghi nhận tốt hơn.
Ngoài hai bộ luật chính là Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ, thời kỳ phong kiến còn xây dựng nhiều văn bản pháp luật khác nhau quy định về vấn đề kết hôn mà chưa được tập hợp, thống nhất thành một chế định hoàn chỉnh. Tuy nhiên, chúng ta cũng thấy rõ thời kỳ này, một khung pháp lý quy định về việc kết hôn đã được xây dựng và dần dần bổ sung, thay đổi cho hoàn chỉnh trong các thời kỳ sau. Chế định kết hôn trong pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 Ngày 25/8/1883 triều đình nhà Nguyễn ký kết với Pháp bản "Hiệp ước hòa bình". Theo bản Hiệp ước đó, đất nước ta bị chia cắt làm ba miền: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ.
Đất nước Việt Nam chịu sự đô hộ của thực dân 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Nhằm đảm bảo sự thống trị của chúng trên đất nước Việt Nam, thực dân Pháp tiếp tục duy trì quan hệ sản xuất và chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến từ nhiều thế kỷ trước ở nước ta. Phỏng theo Bộ luật Dân sự của Công hòa Pháp ban hành năm 1804, điều chỉnh những quan hệ hôn nhân và gia đình ở nước ta dựa trên ba bộ luật: - Bắc Kỳ áp dụng: Bộ dân luật Bắc Kỳ năm 1931. - Trung Kỳ áp dụng: Bộ dân luật Trung Kỳ năm 1936.
- Nam Kỳ áp dụng: Tập Dân luật giản yếu Nam Kỳ năm 1883. Thực dân Pháp coi Nam Kỳ là thuộc địa của chúng, còn Bắc Kỳ và Trung Kỳ là xứ bảo hộ, do vậy ở mỗi miền áp dụng một bộ luật khác nhau với những quy định khác nhau. Về độ tuổi cho phép kết hôn: Dân luật giản yếu quy định "con trai 16 tuổi, con gái 14 tuổi" được phép kết hôn. dân luật Bắc Kỳ và dân luật Trung Kỳ quy định độ tuổi kết hôn cao hơn Dân luật giản yếu: "nam tròn 18 tuổi, nữ tròn 15 tuổi".
Tuy nhiên, trong trường hợp có lý do chính đáng thì quan tỉnh có thể đặc cách cho phép nam tròn 15 tuổi, nữ tròn 12 tuổi kết hôn (Điều 75 dân luật Bắc Kỳ và dân luật Trung Kỳ). Ngoài ra, sự tự nguyện của các bên nam nữ trong việc xác lập hôn nhân cũng đã được các bộ luật thời kỳ này ghi nhận. Điều 76 dân luật Bắc Kỳ quy định "kết hôn tất phải có hai bên nam nữ bằng lòng nhau mới được". Quy định này thể hiện sự tiến bộ hơn hẳn so với pháp luật thời Lê, thời Nguyễn.
Nhưng bên cạnh sự ưng thuận của đôi nam nữ khi kết hôn, pháp luật thời kỳ này vẫn ghi nhận sự ưng thuận của cha mẹ, của người thân thích hay người đỡ đầu và cũng coi đó là yếu tố cần thiết bảo đảm cho hôn nhân được coi là hợp pháp, không kể người kết hôn đã thành niên hay chưa thành niên. Điều 77 dân luật Bắc Kỳ quy định "phàm con cái đã thành niên hay chưa thành niên, không khi nào không có cha mẹ bằng lòng mà kết hôn được".