phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành 03 chương và 08 mục sau đây: Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ 1. Những khái niệm cơ bản về TGPL 1. Trợ giúp pháp lý 1. Chất lượng TGPL 1.
Đánh giá chất lượng TGPL 1. Kinh nghiệm quản lý, đánh giá chất lƣợng TGPL của một số nƣớc trên thế giới 1. Vấn đề chất lượng TGPL của một số nước trên thế giới 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các phương pháp đánh giá chất lượng TGPL của một số nước trên thế giới 1.
Khái quát về chất lượng TGPL và Bộ tiêu chuẩn chất lượng hoạt động TGPL ở Vương quốc Anh Chƣơng 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƢỢNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2. Thực trạng chính sách, pháp luật TGPL ở Việt Nam 2. Hệ thống TGPL 2. Kết quả thực hiện TGPL 2.
Công tác đánh giá chất lƣợng TGPL ở Việt Nam 2. Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL 2. Kết quả sau 03 năm thực hiện Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc TGPL 2. Đánh giá chung về quản lý, đánh giá chất lƣợng TGPL ở Việt Nam 2.
Khó khăn, hạn chế 2. Nguyên nhân Chƣơng 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM CHẤT LƢỢNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ Ở VIỆT NAM 3. Nguyên tắc bảo đảm chất lƣợng TGPL 3. Một số giải pháp 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Hoàn thiện chính sách, pháp luật về TGPL 3. Về nguồn lực 3. Về công tác phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan 3. Về truyền thông nâng cao nhận thức về TGPL cho người được TGPL và cộng đồng 3.
Giải pháp khác 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ 1. Những khái niệm cơ bản về TGPL 1. Trợ giúp pháp lý 1. Khái niệm Trợ giúp pháp lý Thuật ngữ “trợ giúp pháp lý” được sử dụng phổ biến từ giữa thế kỷ 20, xuất phát từ tiếng Anh là “legal aid”.
Theo nghĩa phổ biến thì “legal aid” được hiểu là “tiền lấy từ quỹ công để trả chi phí cho việc cố vấn hoặc làm đại diện pháp lý” [28, tr998]. “Legal aid” trong cụm từ “legal aid schem” có nghĩa là “bảo trợ tư pháp” [12]. Ngoài ra, trong một số tài liệu khác còn gọi là “hỗ trợ pháp luật”, “hỗ trợ pháp lý” hoặc “hỗ trợ tư pháp”. Theo Đại Từ điển Tiếng Việt - Nguyễn Như Ý, Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin, 1999 thì “trợ giúp” là “sự giúp đỡ, bảo trợ, hỗ trợ, giúp cho ai việc gì, đem cho ai cái gì đang lúc khó khăn, đang cần đến”.
Từ điển Từ và ngữ Việt Nam, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh giải thích: trợ giúp là góp sức hoặc góp tiền cho một người hoặc vào một việc chung, giúp làm hộ mà không lấy tiền công. Như vậy, có nhiều cách gọi khác nhau về thuật ngữ này nhưng cụm từ “trợ giúp” có nghĩa chung nhất, bao hàm nội dung sự “giúp đỡ, bảo trợ, hỗ trợ”. Ở Việt Nam, thuật ngữ “trợ giúp pháp lý” được sử dụng trong các tài liệu từ năm 1995, khi bắt đầu nghiên cứu xây dựng Đề án về hoạt động TGPL ở Việt Nam. Đến năm 1996, thuật ngữ “trợ giúp pháp lý” được sử dụng trong Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Mô hình tổ chức và hoạt động TGPL, phương hướng thực hiện trong điều kiện hiện nay” của Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp.
Năm 1997, thuật ngữ này được sử dụng trong Quyết định số 734/TTg ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập tổ chức TGPL cho người nghèo và đối tượng chính sách. Năm 2006, Luật 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com TGPL đã có quy định chính thức về khái niệm TGPL: “TGPL là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL theo quy định của Luật này, giúp người được TGPL bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật” (Điều 3). Đặc điểm, vai trò của TGPL tại Việt Nam - Trợ giúp pháp lý là một loại dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp, có đầy đủ những đặc trưng của dịch vụ công như: được xác định là một trong những chức năng xã hội của Nhà nước và là trách nhiệm của Nhà nước; đối tượng được hưởng TGPL là những người yếu thế, không có đủ điều kiện tiếp cận với các loại dịch vụ pháp lý có thu tiền, cần có sự trợ giúp của Nhà nước. Các chi phí cho hoạt động TGPL chủ yếu do ngân sách Nhà nước bảo đảm.
- Trợ giúp pháp lý là một loại hình dịch vụ pháp lý, do những người có trình độ am hiểu pháp luật thực hiện trên cơ sở pháp luật nhằm đáp ứng nhu cầu giúp đỡ pháp luật của người nghèo và đối tượng chính sách thông qua việc tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng, giúp đỡ thực hiện công việc liên quan đến thủ tục hành chính, giải quyết khiếu nại… TGPL được coi là một loại hình dịch vụ pháp lý bởi hình thức và phương thức thực hiện tương tự như dịch vụ pháp lý nói chung. Điểm khác biệt ở đây là TGPL có đối tượng, phạm vi, lĩnh vực trợ giúp, tổ chức, người thực hiện hẹp hơn; việc thực hiện TGPL cũng được tiến hành theo một trình tự, thủ tục luật định khác so với trình tự thủ tục cung cấp dịch vụ pháp lý chung do tổ chức và cá nhân khác thực hiện. Người thụ hưởng TGPL không phải trả bất kỳ một khoản lệ phí nào. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Trợ giúp pháp lý còn là một dịch vụ pháp lý chứa đựng tính nhân văn sâu sắc, bởi mục tiêu hướng tới, đối tượng phục vụ là những người có hoàn cảnh đặc biệt cần phải được Nhà nước và xã hội quan tâm giúp đỡ, hỗ trợ.
Sự hỗ trợ này sẽ làm giảm bớt những khó khăn của nhóm đối tượng yếu thế, góp phần tạo sự công bằng trong tiếp cận công lý. - Trợ giúp pháp lý mang tính pháp lý, thể hiện qua phương thức hoạt động và mục đích hướng tới của nó. Tính chất pháp lý của TGPL thể hiện ở chỗ, TGPL là một trong các biện pháp thực thi pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống bởi Nhà nước phải có trách nhiệm tạo ra các cơ chế để giúp người dân biết các quy định pháp luật để thực hiện, sử dụng, tuân thủ trong cuộc sống để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đặc biệt khi Nhà nước thực hiện việc quản lý xã hội bằng pháp luật và giải quyết các vấn đề phát sinh hàng ngày trên cơ sở pháp luật thì yêu cầu cần phải giúp cho người dân hiểu biết pháp luật trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
- Trợ giúp pháp lý thể hiện tính chính trị - xã hội: Trợ giúp pháp lý được xác định là trách nhiệm của Nhà nước, Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, thuộc chức năng xã hội của Nhà nước nhằm góp phần khắc phục sự bất bình đẳng trong tiếp cận với pháp luật và xóa nghèo về pháp luật. Thông qua đó, góp phần thiết lập sự ổn định chính trị, bảo vệ chế độ chính trị và các quan hệ xã hội theo ý chí của Nhà nước, làm tăng niềm tin của người dân vào chế độ. TGPL là một trong những phương thức có hiệu quả để Nhà nước giải quyết các mối quan hệ xã hội đang có sự bất ổn, giữ đoàn kết cộng đồng, bảo đảm ổn định trật tự và an toàn xã hội. Người được TGPL Theo quy định của pháp luật về TGPL, người được TGPL là người thuộc một trong các diện sau đây: 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Người nghèo là người thuộc chuẩn nghèo theo quy định của pháp luật.
Chuẩn nghèo do Thủ tướng Chính phủ quy định trong từng giai đoạn cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Chuẩn nghèo hiện nay được thực hiện theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015. - Người có công với cách mạng bao gồm: Người hoạt động cách mạng trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng 8 năm 1945; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động; Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; Bệnh binh; Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học; Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày; Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; Người có công giúp đỡ cách mạng; Cha, mẹ, vợ, chồng của liệt sĩ; con của liệt sĩ chưa đủ 18 tuổi; người có công nuôi dưỡng liệt sĩ. Đây là những người đã có nhiều cống hiến về sức lực, tài năng, trí tuệ và cả tính mạng của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế trong thời chiến cũng như trong thời bình, được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật.
Phần lớn những đối tượng này gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống do bị ảnh hưởng của thương tật, suy giảm sức khoẻ và khả năng lao động (thương binh, bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh), mất chỗ dựa chính trong gia đình (thân nhân liệt sĩ),… Chỉ một bộ phận nhỏ trong số họ có thu nhập ổn định. Với nhóm dân cư này, chính sách TGPL của Nhà nước chủ yếu thể hiện sự ưu tiên, ưu đãi, sự biết ơn của xã hội nói chung đối với những cống hiến của họ chứ không căn cứ vào điều kiện thu nhập. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Người già cô đơn không nơi nương tựa: là những người từ 60 tuổi trở lên, sống một mình và không có người chăm sóc, phụng dưỡng. - Người khuyết tật theo Luật Người khuyết tật.
- Trẻ em không nơi nương tựa: là người dưới 16 tuổi, không có gia đình hoặc bị gia đình bỏ rơi, tự kiếm sống hoặc có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hoà nhập với gia đình, cộng đồng. - Người dân tộc thiểu số thường xuyên sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật.