đặt vấn đề nghiên cứu trong xã hội học. Nó có thể đƣợc xem là một phƣơng pháp nghiên cứu và trình bày thông dụng trong xã hội học, trong đó chỉ ra đƣợc một tập hợp các đặc trƣng xã hội của nhóm. Các đặc trƣng xã hội có thể rút ra từ các dữ liệu thống kê, định lƣợng và định tính. Các đặc trƣng xã hội này đƣợc đo lƣờng, đƣợc so sánh và phân tích trong mối liên hệ của chúng với các biến số khác.
Tùy thuộc các công trình nghiên cứu khác nhau ngƣời ta có thể xác định một tập hợp nhất định các đặc trƣng xã hội của nhóm cần nghiên cứu, chẳng hạn nhƣ những đặc trƣng nhân khẩu học (Tuổi, giới tính, hôn nhân, học vấn…) nguồn gốc xã hội nghề nghiệp và các đặc trƣng kinh tế xã hội khác. Nhằm đạt tới một trình độ phân tích xã hội học nhất định. Các công trình nghiên cứu thuộc loại này cần phản ánh đƣợc hiện trạng cũng nhƣ xu hƣớng của chức năng, vai trò và vị thế xã hội của nhóm [5, tr. Hiện nay chƣa có một khái niệm cụ thể nào về “chân dung xã hội của nữ sinh”, tuy nhiên có thể đƣa ra một khái niệm về chân dung xã hội của nữ sinh nhƣ sau: Chân dung xã hội của nữ sinh là chủ thể của BLHĐ là toàn bộ những 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đặc trƣng xã hội của nhóm nữ sinh.
Các đặc trƣng xã hội này đƣợc đo lƣờng, đƣợc so sánh và phân tích trong mối liên hệ của nữ sinh có hành vi BLHĐ với các biến số khác. Nó bao gồm các đặc điểm về học lực, hạnh kiểm, mối quan hệ với gia đình, ngƣời thân, bạn bè, thầy cô và các mối quan hệ xã hội khác để tạo nên chân dung của nữ sinh một cách toàn diện. Hay nói cách khác chân dung xã hội của nữ sinh là một tập hợp những đặc điểm xã hội nhƣ: đặc điểm nhân khẩu học, đặc điểm về nguồn gốc xã hội, đặc điểm về các mối quan hệ xã hội. của nữ sinh đó.
Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 1. Thuyết học tập xã hội của Albert Bandura Albert Bandura sinh ngày 4 tháng 12 năm 1925 tại thành phố Nundare phía bắc Alberta, nƣớc Canada. Ông tốt nghiệp cử nhân tâm lý ở Trƣờng đại họcBritish Columbia năm 1949. Ông tiếp tục học ở trƣờng đại học Iowa và nhận đƣợc bằng tiến sĩ vào năm 1952.
Năm 1953, ông bắt đầu dạy tại trƣờng Đại học Standford. Ở đó, ông cộng tác với ngƣời học trò đầu tiên của mình là Richard Walters, kết quả là họ đã hoàn thành cuốn sách đầu tiên: Nổi Loạn Nơi Tuổi Dậy Thì (Adolescent Agression) vào năm 1959. Bandura cho rằng môi trƣờng xã hội sẽ dẫn đến việc tạo nên những hành vi của một cá nhân. Học thuyết của ông đƣợc ngƣời ta biết đến qua một cái tên khác: Thuyết học tập xã hội [48].
Thuyết học tập xã hội nhấn mạnh rằng hành động của cá nhân là kết quả của sự bắt chƣớc và quan sát xã hội. Tiếp cận hành vi từ góc độ xã hội cho thấy hành vi gây hấn, hành vi tội phạm đều là do tiếp thu các mẫu ứng xử sai lệch trong xã hội [4]. Cá nhân trong xã hội sẽ tiếp thu những hành vi vi phạm chuẩn mực không chỉ bằng việc từng trải qua và chịu hậu quả mà nó gây ra, mà còn bằng việc quan sát ngƣời khác. Cũng giống nhƣ hầu hết các hành vi xã hội, cá nhân lĩnh hội đƣợc nhiều điều về hành vi sai lệch thông qua việc xem xét ngƣời 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khác hành động và lƣu ý đến những hậu quả của những hành vi đó.
Nếu đứa trẻ sống trong môi trƣờng thiếu giáo dục thì việc a dua theo chúng bạn đánh nhau để chứng tỏ bản thân, để giải tỏa bức xúc là điều khó tránh khỏi. Nếu bố mẹ, thầy cô tỏ ra hung hãn thì trẻ sẽ mau chóng bắt chƣớc và cảm thấy hành vi đó là bình thƣờng [4, tr. Thuyết này cũng giải thích về các hiện tƣợng lây lan tâm lý từ cá nhân này sang cá nhân khác. Điều này lý giải tại sao khi các em học sinh nữ đánh nhau thƣờng đánh theo hội đồng và xung quanh có rất nhiều bạn bè tán dƣơng ủng hộ, đứng xem mà không có hành động gì để can ngăn [4, tr.
Các nhà tâm lý học theo thuyết học tập xã hội cũng khẳng định phim ảnh, game bạo lực có tầm quan trọng trong việc hình thành và củng cố các hành vi gây hấn ở trẻ vị thành niên do các em đồng nhất mình với nhân vật trong phim. Lý thuyết kiểm soát xã hội Đại diện tiêu biểu của trƣờng phái kiểm soát xã hội là Anbert J.Reckless, Travis Hirschi, Michael R. Gotfredson và John Hagan. Lập luận chính của thuyết kiểm soát xã hội là sự sự lệch chuẩn bắt nguồn sâu xa từ sự yếu kém trong khả năng tự kiểm soát hành vi của cá nhân và thiếu vắng các biện pháp kiểm soát phù hợp từ phía xã hội.
Reiss (1951) đã lý giải rằng sự hƣ hỏng ở tuổi vị thành niên là do cá nhân không tự kiểm soát đƣợc hành vi cũng nhƣ họ không bị chi phối bởi sự kiểm soát từ phía xã hội [19, tr. Lý thuyết kiểm soát xã hội đã lý giải hành vi bạo lực học đƣờng là do thiếu vắng tính kiểm soát của bản thân, gia đình và nhà trƣờng. Điều này đã đƣợc kiểm định bằng các nghiên cứu trƣớc đây. Chen (2008) đã kết luận rằng, tình trạng bạo lực ở học sinh liên quan đến đặc điểm tiêu cực của cá nhân (thái độ đối với bạo lực, kiểm soát tính bốc đồng, tính hung hăng), sự giám sát của cha mẹ, sự kém tuân thủ quy định ở nhà trƣờng, sự ngƣợc đãi (chứng kiến 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bạo lực, nạn nhân của bạo lực), mối quan hệ không tốt giữa giáo viên và học sinh và các nguy cơ từ bạn bè.
Nghiên cứu tổng quan của Sarah Linstom Johnson (2009) cũng đã có những phát hiện tƣơng tự, học sinh có nhận thức quy tắc của trƣờng và tin tƣởng càng tốt thì càng ít có xu hƣớng bạo lực học đƣờng diễn ra. Khi đó, học sinh sẽ có mối quan hệ tích cực với giáo viên, cảm thấy môi trƣờng tích cực và trật tự. Các nghiên cứu trong nƣớc cũng có những phát hiện khá thống nhất với các nghiên cứu trên thế giới. Nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Văn Lƣợt (2009), Lê Thị Lan Anh (2012) cũng đã kết luận rằng, các em kiềm chế cảm xúc nóng giận càng ít, thất vọng đối với các quy định càng lớn thì khả năng có hành vi bạo lực học đƣờng càng cao.
Ngoài ra, một nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Phƣơng Thảo, Cao Hào Thi (2012) đƣợc thực hiện trên 340 học sinh từ lớp 8-12 của 8 trƣờng THCS và THPT trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Nhóm tác giả này đã kết luận rằng, sự kém tuân thủ quy định ở trƣờng, ấn tƣợng tiêu cực về trƣờng học, thái độ đối với bạo lực và tính nóng nảy là một trong những nhân tố tác động đến hành vi bạo lực học đƣờng của học sinh hiện nay [19, tr. Nhƣ vậy, bằng chứng từ kết luận của các nghiên cứu trƣớc đây đã góp phần củng cố tính đúng đắn và hợp lý của lý thuyết kiểm soát xã hội về lý giải hành vi BLHĐ. Điều này có nghĩa là, càng thiếu sự kiểm soát xã hội (bên trong và bên ngoài) thì học sinh có hành vi bạo lực càng nhiều.
Do đó, tăng cƣờng sự kiểm soát của nhà trƣờng, gia đình và rèn luyện những kỹ năng kiểm soát bản thân của học sinh là một trong những giải pháp hữu hiệu để hạn chế tình trạng bạo lực học đƣờng hiện nay [19, tr. Thuyết nhận thức - hành vi Các tác giả Bandura, Beck, Ellis, Kelly, Larazarus, Mahoney, Maultsby, Meichenbaum, Seligman là những ngƣời đầu tiên hợp nhất cơ cấu đƣợc điều hòa bởi nhận thức với lý thuyết hành vi. 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo thuyết nhận thức - hành vi thì cách thức mà con ngƣời hành động đều xuất phát từ sự hiểu biết và nhận thức của họ. Nếu sự nhận thức dựa trên những quan điểm niềm tin phi lý thì nó thƣờng gây ra các hỗn loạn cảm xúc và ứng xử không hợp lý.
Có thể diễn giải quan điểm của thuyết nhận thức hành vi nhƣ sau: Suy nghĩ, cảm xúc và hành vi có liên quan mật thiết với nhau. Những rối loạn cảm xúc có thể xuất hiện do những suy nghĩ lệch lạc, tiêu cực. Nếu thay đổi những suy nghĩ lệch lạc tiêu cực sẽ giúp cá nhân cải thiện những rối loạn về cảm xúc và đặc biệt sẽ dẫn tới thay đổi hành vi. Nhận thức là yếu tố quyết định chủ yếu việc cá nhân có cảm xúc và hành động nhƣ thế nào [4, tr.
Nhƣ vậy, lý thuyết này cho ta thấy rằng cảm xúc, hành vi của con ngƣời không phải đƣợc tạo ra bởi môi trƣờng, hoàn cảnh mà bởi cách nhìn nhận vấn đề. Con ngƣời học tập bằng cách quan sát, ghi nhớ và đƣợc thực hiện bằng suy nghĩ và quan niệm của mỗi ngƣời về những gì họ đã trải nghiệm. Thuyết này mang tính nhân văn cao cả và đúng đắn khi đã đặt đúng trọng tâm vai trò của chủ thể con ngƣời trong hành vi của họ. Thuyết này đƣợc ứng dụng trong việc lý giải những hành vi bạo lực của nữ sinh THPT do nhận thức sai lệch của bản thân họ.
Nếu điều chỉnh đƣợc nhận thức có thể thay đổi đƣợc hành vi BLHĐ ở nữ sinh. Các văn bản pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ của học sinh Có rất nhiều văn bản luật quy định về quyền và nghĩa vụ của học sinh, chúng ta có thể kể ra những văn bản sau: Luật giáo dục (2009) có một số điều quy định về quyền và nghĩa vụ của học sinh bao gồm những điều sau: Điều 85 quy định về nhiệm vụ của ngƣời học; điều 86 quy định quyền của ngƣời học; điều 88 quy định các hành vi ngƣời học không đƣợc làm; điều 94 quy định trách nhiệm của cha mẹ; điều 97 quy định trách nhiệm của xã hội và điều 118 quy định về xử lý vi phạm [29]. 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luật hôn nhân gia đình (2000) đã quy định rõ: Cha mẹ có quyền và nghĩa vụ thƣơng yêu, trông nom, nuôi dƣỡng, chăm sóc bảo vệ quyền lợi lợi ích hợp pháp của con, chăm lo việc học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, không đƣợc ngƣợc đãi, hành hạ, xúc phạm con [30].