CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU Khóm (Ananas comosus L.), cây ăn trái nhiệt đới, được xem là “nữ hoàng” của các loại trái vì hương vị thơm ngon, giàu chất dinh dưỡng và nhiều enzym (Dật, 2002). Hiện nay, khóm được trồng nhiều ở các tỉnh phía Nam như Kiên Giang, Hậu Giang, Tiền Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Cần Thơ. Trong đó, giống khóm Cầu Đúc Hậu Giang đã rất nổi tiếng và là cây trồng chủ lực đứng thứ hai sau cây lúa, với diện tích trồng toàn tỉnh khoảng 2.000 ha với sản lượng thu hoạch 40.000 tấn, tập trung chủ yếu ở thành phố Vị Thanh (xã Tân Tiến, xã Hỏa Tiến) và huyện Long Mỹ (thị trấn Vĩnh Viễn, xã Vĩnh Viễn A) (Việt, 2019). Hiện nay, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu, đánh giá tình trạng dinh dưỡng trong cây trong từng mùa vụ thích hợp (vụ tơ và vụ gốc), đặc biệt là vụ gốc.
Bởi vì, mỗi vùng có kỹ thuật canh tác, lượng phân bón, khí hậu, giống cây trồng và khả năng cung cấp dinh dưỡng từ đất khác nhau (Sema et al. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đánh giá tình trạng dinh dưỡng cho cây khóm vụ gốc trồng trên vùng đất phèn tại Hậu Giang là điều rất cần thiết. Bên cạnh đó, việc lựa chọn phương pháp phù hợp để chẩn đoán đúng tình trạng dưỡng chất trong cây cũng là một điều quan trọng. Trong đó, hệ thống tích hợp chẩn đoán và khuyến cáo (DRIS) được đánh giá là phương pháp phù hợp nhất cho sự phát hiện thừa, thiếu hay đủ các dưỡng chất trong cây.
Bởi vì, chúng rất ít bị biến động bởi vị trí lấy mẫu, giai đoạn sinh trưởng của cây, điều kiện đất đai và mùa vụ trồng, khắc phục được những hạn chế của phương pháp phân tích lá thông thường (Beaufils & Sumner, 1977). Hiện nay, trên thế giới phương pháp này đã được sử dụng phổ biến trên nhiều loại cây trồng khác nhau như mía, nho, chuối, cam quýt, táo, khoai tây. Ngoài ra, phương pháp này cũng đã được xây dựng cho cây khóm trên thế giới như ở tại Ấn Độ (Sema et al., 2010), Tây Ban Nha (Montoya et al. Tuy nhiên, ở Việt Nam đặc biệt là tỉnh Hậu Giang vẫn chưa có nghiên cứu đánh giá về hiệu quả chẩn đoán bằng phương pháp DRIS cho cây khóm vụ gốc.
1 Chính vì vậy, đề tài “Xác định vị trí lá để xây dựng hệ thống chẩn đoán và khuyến cáo tích hợp về tình trạng dinh dưỡng cho cây khóm (Ananas comosus L.) vụ gốc trồng trên đất phèn tại Hậu Giang” được thực hiện nhằm mục tiêu: (i) Xác định các trở ngại chính từ đất giới hạn năng suất khóm vụ gốc bằng phương pháp phân tích thành phần chính. (ii) Thành lập bộ DRIS chuẩn và xác định được tình trạng dưỡng chất N, P, K, Ca, Mg, Fe, Cu, Zn và Mn cho cây khóm vụ gốc trồng trên đất phèn tại Hậu Giang. CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan về cây khóm 2.1 Nguồn gốc và vị trí phân loại 2.1 Nguồn gốc Cây khóm là cây bản địa ở Nam Mỹ, có nguồn gốc từ Paraguay và miền Nam Brazil. Tuy nhiên, nguồn gốc của các của các giống khóm thuần thì ít được biết đến (Pickersgill, 1976).2 Phân loại Cây khóm có tên khoa học là Ananas comosus (L.
và nằm trong lớp đơn tử diệp, thuộc bộ Poales, họ dứa Bromeliaceae – một họ lớn của thực vật có hoa gồm khoảng 50 chi và 1. Trong đó, chi dứa (Ananas) có nguồn gốc từ khu vực Nam Mỹ và được tìm thấy khoảng 16 loài với 34 giống khác nhau. Theo Tục (2002) cho rằng một số nhóm giống khóm được trồng trên thế giới hiện nay bao gồm nhóm Cayenne, nhóm Spanish, nhóm Abacaxi và nhóm Maipure. Tại Việt Nam, các giống khóm thuộc loài Ananas comosus (L.
được chia làm 7 nhóm, trong đó 3 nhóm chính là nhóm 2 Cayenne, nhóm Queen và nhóm Spanish (Dật, 2002). Nhóm Cayenne Cayenne là nhóm được trồng nhiều trên thế giới. Ở nước ta Cayenne được trồng đầu tiên ở Sơn Tây vào năm 1939. Hiện nay, Cayenne đang được nhân nhanh để trồng thay thế các giống địa phương khác.
Nhóm Cayenne có đặc điểm cơ bản như sau: Cây cao 100-120 cm; lá dài từ 60-100 cm, rộng khoảng 4-8 cm, không hoặc có ít gai, bản lá dày, cứng, máng sâu. Hoa có màu xanh nhạt, hơi đỏ. Trái có hình trụ, mắt dẹt và rất nông, khối lượng trái trung bình 1,5-2,0 kg có khi lên tới 4,0-5,0 kg nên rất phù hợp cho chế biến đồ hộp, đạt yêu cầu của các nhà máy chế biến xuất khẩu hiện nay. Tuy nhiên, nhóm khóm Cayenne có một số nhược điểm đó là: hàm lượng nước trong trái cao, vỏ mỏng nên khi vận chuyển dễ bị dập thối; chống chịu với sâu bệnh kém, đặc biệt là mẫn cảm với bệnh héo virus, tuyến trùng, thối nõn; hệ số nhân giống tự nhiên thấp.
Ở nước ta, các giống khóm thuộc nhóm Cayenne như Thơm Tây, Thơm Đà Lạt, Cayenne Quảng Bình, Cayenne Phú Hộ. Hiện nay, nước ta còn tuyển chọn nhập thêm một số giống như Cayenne Trung Quốc, Cayenne Thái Lan. Nhóm Queen Nhóm Queen gồm các giống như Dứa Tây, Hoa Phú Thọ, Na Hoa. Đối với nhóm Cayenne thì nhóm Queen sinh trưởng phát triển kém hơn, cây thấp lá ngắn hẹp, có nhiều gai ở mép lá, hoa có màu xanh hồng, trái có nhiều mắt nhỏ và sâu, thịt trái có màu vàng, dai, có màu sắc và hương vị thích hợp cho ăn tươi.
Nhóm này không kén đất, thích ứng rộng, khả năng chống chịu tốt, hệ số nhân giống cao trung bình 4-6 chồi/gốc/năm, khả năng chịu bóng tốt. Nhược điểm lớn của nhóm này là trái nhỏ, trung bình 0,5-0,7 kg/trái. Trái có hình bầu dục, nhiều khe hở nên không thích hợp cho việc chế biến xuất khẩu. Nhóm này được trồng nhiều ở Việt Nam và dùng cho ăn tươi là chủ yếu.
Nhóm Spanish Nhóm này có đặc điểm: Lá dài, mềm, hẹp, ít gai, mép lá hơi ngả về phía lưng, hoa có màu đỏ nhạt. Trái ngắn hình trái táo, khối lượng trái 3 trung bình đạt 1 kg khi chín trái có màu đỏ nhạt, hình dạng trái khá cân đối nhưng mắt sâu, thịt trái màu vàng ngà hoặc vàng trắng, nhiều xơ, lõi rắn, ít ngọt, vị chua nên cũng ít được dùng để chế biến xuất khẩu. Nhóm này có hệ số nhân giống cao, khả năng chống chịu tốt hơn giống Cayenne. Theo phân tích của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) thành phần dinh dưỡng trong 100 g phần ăn được của trái khóm gồm: 50 kcal (210 kJ); 13,12 g carbonhydrates; 9,85 g đường; 1,4 g chất xơ; 0,12 g chất béo; 0,54 g protein; 0,08 mg vitamin B1; 0,032 mg vitamin B2; 0,5 mg vitamin B3; 0,213 mg vitamin B5; 0,112 mg vitamin B6; 18 mg vitamin B9; 0,5 mg vitamin B3; 47,8 mg vitamin C; 13 mg Ca; 0,28 mg Fe; 12 mg Mg; 0,9 mg Mn; 8 mg P; 109 mg K; 0,12 mg Zn.2 Đặc điểm thực vật của cây khóm Cây khóm là một loại cây thảo lâu năm (Shenghui et al., 2011) sau khi thu hoạch trái các mầm nách ở thân tiếp tục phát triển và hình thành một cây mới giống như cây trước, cũng cho một trái; trái thứ hai thường nhỏ hơn trái trước.
Các mầm nách của cây con lại cho phát triển và cho một trái thứ ba. Cây khóm trưởng thành cao khoảng 1,0-1,2 m và có đường kính khoảng từ 1,3-1,5 m, có đáy bẹt, tán cây xoè rộng. Cấu tạo của cây khóm gồm có các thành phần sau (Dật, 2002): 2.1 Rễ Rễ thường là bất định và mọc ngang mặt đất. Dựa vào nguồn gốc phát sinh chia thành các dạng như: rễ cái, rễ nhánh và rễ bất định.
Rễ khóm thuộc loại ăn nông, phần lớn do nhân giống bằng chồi (nhân giống vô tính) nên mọc từ thân ra, nhỏ và phân nhiều nhánh. Ở tầng đất dày rễ có thể ăn sâu 0,9 m. Nhưng bộ rễ khóm thường tập trung ở tầng đất 10-26 cm và phát triển rộng đến 1 m (Dật, 2002). Rễ khóm thuộc loại háo khí ưa xốp và thoáng nên trồng tốt nhất trên đất đồi feralit đỏ vàng và kém phát triển trên đất cát, đất sét.
Đồng thời rễ khóm phát triển tốt trong đất có hàm lượng nước từ 10-20%, độ pH thích hợp nhất từ 4,0-5,5, giới hạn 3,5-6,0. Để cho bộ rễ phát triển bình thường cần cung cấp dinh dưỡng N, P, K, Ca, Fe, Mg, S. Trong đó N, P có vai trò quan trọng. Thiếu N, P rễ phát triển kém, không ra trái.2 Thân Thân cây khóm chia làm hai phần: một phần trên mặt đất và một phần ở dưới đất.
Hình dạng của thân biểu hiện tình trạng của cây như thân ngắn, bặm chứng tỏ cây khỏe, ngược lại thân dài bé là cây yếu. Thân cây khóm trưởng thành dài 20-30 cm, đường kính 3-7 cm, trọng lượng 200-400 g. Ở trung tâm thân là một mô rỗng, mềm, chứa các chất dinh dưỡng chứa nhiều tinh bột ở giữa, nối tiếp là một lớp bó mạch có nhiều xơ, và ngoài cùng được bao bọc bởi một lớp biểu bì và gốc lá (Dật, 2002).3 Lá Lá mọc trên thân cây theo hình xoắn ốc. Lá thường dày, không có cuống, hẹp ngang (rộng 5-8 cm) và dài từ 80-100 cm, khi trưởng thành có khoảng 60-80 lá.
Hình dạng lá thay đổi tuỳ theo vị trí, tuổi của chúng từ đó dẫn đến việc sắp xếp chúng thành nhiều loại khác nhau. Theo Py (1965) có thể chia làm 6 loại lá như sau: + Lá A: là những lá phía ngoài đã phát triển đầy đủ khi chồi được đem trồng. Lá có chỗ thắt lại rõ rệt ở gần đáy lá. + Lá B: là những lá phát triển chưa đầy đủ khi chồi được đem trồng, có một khoảng thắt lại nằm ở vị trí cao hơn so với lá A.
+ Lá C: là những lá già nhất phát triển sau khi chồi đã được trồng, trên lá có một chỗ thắt lại nhưng không rõ. Loại lá A, B và C thường mọc từ khoảng giữa thân trở xuống. Đến khi cây ra hoa thì chỉ còn lại lá C (lá A, B đã héo chết). + Lá D: là những lá đã phát triển đầy đủ, mọc ở giữa phần thân, đính vào thân thành một góc 450.
Đây là những lá lớn và dài nhất trên cây, loại lá D rất quan trọng vì trọng lượng lá có tương quan chặt chẽ đến trọng lượng trái. Việc phân tích tình trạng dinh dưỡng của cây thường được thực hiện trên lá D. + Lá E: là những lá đã phát triển đủ mọc ra ở phần “vai” của thân, hình mũi lao, gần 1/2 lá không có diệp lục tố. + Lá F: là những lá chót của cây, mọc thẳng từ phần đỉnh thân, hình mũi lao, trên 1/2 lá không có diệp lục.
5 Các đặc điểm chung của lá khóm Gai lá: lá có nhiều gai hay ít gai thay đổi tùy theo giống.