Nghiên Cứu Chẩn Đoán và Điều Trị Dị Dạng Mạch Máu Ngoại Biên

Tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu chẩn đoán một số dị dạng mạch máu ngoại biên và điều trị can thiệp bằng tiêm cồn tuyệt, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Đại học Huế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

155
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về dị dạng mạch máu

Dị dạng mạch máu là một bệnh lý tổn thương khu trú hoặc lan tỏa, ảnh hưởng đến mạch máu như động mạch, tĩnh mạch và mao mạch. Tổn thương này đặc trưng bởi sự gia tăng số lượng và kích thước của mạch máu ngoại biên. Theo nghiên cứu, dị dạng mạch máu không có hiện tượng tăng sinh tế bào nội mô và có xu hướng tiến triển theo thời gian. Trước khi có sự ra đời của Hội nghiên cứu bệnh lý bất thường mạch máu thế giới (ISSVA) vào năm 1992, việc chẩn đoán và điều trị dị dạng mạch máu gặp nhiều khó khăn do thuật ngữ không thống nhất. Năm 2014, ISSVA đã đưa ra bảng phân loại bệnh lý mạch máu, giúp định danh rõ ràng các loại dị dạng mạch máu. Tuy nhiên, việc điều trị vẫn chưa đạt được sự đồng thuận, đặc biệt là trong việc sử dụng cồn tuyệt đối để điều trị. Nghiên cứu này nhằm khảo sát đặc điểm lâm sàng và hình ảnh học của dị dạng mạch máu, đồng thời đánh giá hiệu quả của phương pháp tiêm cồn tuyệt đối.

1.1. Định nghĩa và phân loại dị dạng mạch máu

Dị dạng mạch máu được phân loại theo tiêu chuẩn của ISSVA, bao gồm các loại như dị dạng động tĩnh mạch, dị dạng tĩnh mạch và dị dạng mao mạch. Mỗi loại có đặc điểm lâm sàng và hình ảnh học riêng. Dị dạng động tĩnh mạch thường có sự thông nối giữa động mạch và tĩnh mạch, trong khi dị dạng tĩnh mạch chủ yếu ảnh hưởng đến tĩnh mạch mà không có sự thông nối. Dị dạng mao mạch thường gặp ở trẻ em và có thể tự hồi phục. Việc phân loại này giúp các bác sĩ dễ dàng hơn trong việc chẩn đoán và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.

II. Chẩn đoán dị dạng mạch máu

Chẩn đoán dị dạng mạch máu bao gồm việc sử dụng các phương pháp hình ảnh như chụp cắt lớp vi tính (CLVT) và chụp mạch máu số hóa xóa nền (DSA). Các phương pháp này giúp xác định vị trí, kích thước và loại dị dạng. Chẩn đoán dị dạng cần dựa vào các triệu chứng lâm sàng như đau, sưng hoặc biến chứng do dị dạng gây ra. Việc sử dụng bảng phân loại của ISSVA giúp chuẩn hóa quy trình chẩn đoán, từ đó nâng cao độ chính xác và hiệu quả trong điều trị. Các triệu chứng lâm sàng có thể khác nhau tùy thuộc vào loại dị dạng và vị trí của nó trong cơ thể. Việc chẩn đoán chính xác là rất quan trọng để lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp.

2.1. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh

Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh như CLVT và DSA đóng vai trò quan trọng trong việc xác định dị dạng mạch máu. CLVT cho phép đánh giá cấu trúc mạch máu và phát hiện các tổn thương liên quan. DSA là phương pháp tối ưu để quan sát mạch máu và đánh giá mức độ nghiêm trọng của dị dạng. Sự kết hợp giữa các phương pháp này giúp bác sĩ có cái nhìn tổng quát về tình trạng bệnh lý, từ đó đưa ra quyết định điều trị chính xác hơn. Việc sử dụng công nghệ hình ảnh hiện đại đã cải thiện đáng kể khả năng chẩn đoán và theo dõi tiến triển của bệnh.

III. Điều trị dị dạng mạch máu bằng tiêm cồn tuyệt đối

Điều trị dị dạng mạch máu bằng phương pháp tiêm cồn tuyệt đối đã được chứng minh là hiệu quả trong nhiều nghiên cứu. Cồn tuyệt đối có khả năng gây xơ hóa và tắc mạch, từ đó làm giảm kích thước và triệu chứng của dị dạng. Tuy nhiên, việc sử dụng cồn tuyệt đối cũng tiềm ẩn nhiều biến chứng, bao gồm đau, nhiễm trùng và tổn thương mô xung quanh. Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thành công của phương pháp này có thể đạt từ 60% đến 80%, tùy thuộc vào loại dị dạng và kỹ thuật thực hiện. Việc lựa chọn bệnh nhân phù hợp và thực hiện kỹ thuật chính xác là rất quan trọng để đạt được kết quả điều trị tốt nhất.

3.1. Kỹ thuật tiêm cồn tuyệt đối

Kỹ thuật tiêm cồn tuyệt đối yêu cầu sự chuẩn bị kỹ lưỡng và thực hiện bởi các bác sĩ có kinh nghiệm. Quy trình bao gồm việc xác định vị trí dị dạng thông qua hình ảnh học, sau đó tiến hành tiêm cồn vào vùng tổn thương. Việc theo dõi sau tiêm là rất quan trọng để phát hiện sớm các biến chứng có thể xảy ra. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, nếu được thực hiện đúng cách, phương pháp này có thể mang lại hiệu quả cao và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Tuy nhiên, cần có sự đồng thuận trong việc lựa chọn bệnh nhân và kỹ thuật thực hiện để giảm thiểu rủi ro.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU Dị dạng mạch máu ngoại biên là một bệnh lý ít gặp, tần suất mắc vào khoảng 1% dân số theo nhiều nghiên cứu trên thế giới và được phân loại theo tiêu chuẩn của Hội nghiên cứu bất thường bệnh lý mạch máu thế giới (HNCBTBLMMTG) [13], [14]. Dị dạng mạch máu có thể gặp ở bất kỳ lứa tuổi nào, từ trẻ sơ sinh cho đến người lớn. Ở Việt nam, chưa có một thống kê cụ thể về dịch tễ, còn nhiều nhầm lẫn về danh pháp trong chẩn đoán lâm sàng và hình ảnh. Hệ quả kéo theo là điều trị không nhất quán, khó khăn trong chọn lựa phương pháp điều trị, kết quả điều trị tốt không cao.

CÁC THUẬT NGỮ VỀ BỆNH LÝ MẠCH MÁU Khởi đầu, dị dạng mạch máu (DDMM) không phân biệt với u máu (hemangioma), thuật ngữ chẩn đoán chung, nhầm lẫn và có tính chất mô tả lâm sàng. Mulliken và các cộng sự dựa vào giải phẫu bệnh, đặc điểm lâm sàng, tính chất hình ảnh học đã đưa ra chẩn đoán xác định và chẩn đoán phân biệt giữa hai nhóm bệnh [4], [15]. U mạch máu có hiện tượng tăng sinh tế bào nội mô mạch máu, trong khi đó DDMM chỉ là những cấu trúc mạch máu bất thường, không có hiện tượng tăng sinh tế bào nội mô [16]. Dựa theo các nghiên cứu của Mulliken và nhiều tác giả khác, năm 2014, ISSVA đồng thuận đưa ra bảng phân loại chi tiết, định danh tổn thương phân biệt rõ u mạch máu, dị dạng mạch máu, các tổn thương phối hợp hoặc các hội chứng bẩm sinh đi kèm [17], [18].

Bảng phân loại bệnh lý mạch máu của ISSVA 2014 Bệnh lý mạch máu U mạch Bệnh lý dị dạng mạch máu máu Phối Các hợp nhánh Đơn giản Phối hợp trong Lành tính mạch máu các hội Tiến triển chính chứng tại chỗ hoặc - Dị dạng mao mạch. giáp biên - Dị dạng bạch mạch. Phối hợp giữa Ác tính - Dị dạng tĩnh mạch. tất cả những - Dị dạng động tĩnh mạch.

- Thông động tĩnh mạch. GIẢI PHẪU HỌC HỆ THỐNG MẠCH MÁU 1. Giải phẫu học đại thể Hệ thống mạch máu đóng vai trò quan trọng trong cơ thể gồm: hệ đại tuần hoàn (động mạch, mao mạch, tĩnh mạch); hệ tuần hoàn phổi và hệ bạch mạch. Hệ bạch mạch là một thành phần trong hệ thống tuần hoàn, mang dịch bạch huyết (protein phân tử lớn, tế bào bạch cầu) đổ về ống ngực rồi đổ về hệ đại tuần hoàn, thông qua lỗ đổ ống bạch huyết ở tĩnh mạch duới đòn trái.

Giải phẫu học vi thể 1. Động mạch Được cấu tạo bởi ba lớp (trong, giữa, ngoài), giảm dần độ dày từ động mạch đến tiểu động mạch. Trong lớp ngoài có thể chứa các mạch máu nhỏ gọi là mạch nuôi mạch (vasa vasorum). Mao mạch Chỉ có lớp tế bào nội mô (intima) và lớp màng đáy, dày khoảng 5 đến 10 micromet, là nơi trao đổi dinh dưỡng, oxygen.

Tĩnh mạch Tương tự như động mạch, tĩnh mạch có 3 lớp, nhưng lớp giữa mỏng hơn do chứa ít cơ trơn và ít mô đàn hồi hơn. Các tĩnh mạch có hệ thống van giúp kháng lại lực hấp dẫn, đẩy máu về tim. Bạch mạch Bạch mạch có cấu trúc vi thể tương tự như hệ đại tuần hoàn bao gồm bạch mạch lớn, và bạch mạch nhỏ. Bạch mạch lớn gồm 3 lớp tương tự như tĩnh mạch: lớp nội mô, ít cơ vòng, lớp áo ngoài.

Bạch mạch nhỏ có cấu trúc tương tự như mao mạch: tế bào nội mô lót và lớp áo ngoài. GIẢI PHẪU BỆNH LÝ MẠCH MÁU Giải phẫu bệnh là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán hầu hết các loại bệnh lý trong y khoa hiện đại. Tuy nhiên, do là một thủ thuật xâm lấn (sinh thiết lấy mẫu mô bệnh), và nhờ sự tiến bộ vượt bậc trong hình ảnh chẩn đoán, nên dần, các bệnh lý bất thường mạch máu chỉ được thực hiện sinh thiết khi có nghi ngờ tổn thương ác tính, hoặc tổn thương khó phân biệt trên lâm sàng và hình ảnh chẩn đoán. Hình ảnh vi thể phân biệt giữa u mạch máu và dị dạng mạch máu chủ yếu dựa vào sự tăng sinh tế bào nội mô [19].

Dị dạng mạch máu, bất kể loại dị dạng, ghi nhận các tế bào nội mô mạch máu bình thường, dạng dẹt, không có tăng sinh tế bào nội mô và không có gia tăng kích thước bào tương trên vi thể. Ngoài ra, các cấu trúc mạch máu như động mạch, tĩnh mạch hoặc bạch mạch giãn lớn trên tiêu bản giải phẫu bệnh [20]. Hình ảnh giải phẫu bệnh u mạch máu dạng tiến triển: hình ảnh dày thành và tăng sinh tế bào nội mô (nhân tế bào màu xanh, dày đồng tâm), mũi tên vàng chỉ tế bào nguyên phân. Hình giải phẫu bệnh học dị dạng tĩnh mạch: giãn các tĩnh mạch với cấu trúc thành tĩnh mạch hoàn toàn bình thường “Nguồn: Mattassi R.

Hình ảnh giải phẫu bệnh dị dạng động tĩnh mạch: các mạch máu giãn hình ống, không ghi nhận dấu hiệu tăng sinh lớp nội mạc, tế bào nội mạc bị ép dẹp“Nguồn: Mattassi R. CƠ CHẾ BỆNH SINH DỊ DẠNG MẠCH MÁU Theo nhiều nghiên cứu, dị dạng mạch máu có nguyên nhân từ tổn thương gien do di truyền hoặc do tổn thương thể khảm. Các gien tổn thương mã hoá hệ thống truyền tín hiệu nội bào RAS/MAPK (Renin Angiotensin System/ Mitogen activated protein Kinase) [22], [23]. Tuy nhiên, để có biểu hiện lâm sàng, hoặc tiến triển bệnh, cần có một tác nhân thứ cấp, gây ảnh hưởng trực tiếp đến vị trí mô có tổn thương gien, làm thay đổi tín hiệu dẫn truyền nội bào gây ra bệnh lý dị dạng mạch máu [24].

Sự hình thành hệ thống mạch máu Hai quá trình hình thành mạch (vasculogenesis) và phát triển mạch (angiogenesis) bắt đầu từ ngày thứ 13 đến 15 của phôi dưới sự điều khiển và lập trình sẵn bởi gien [25]. Quá trình tân sinh mạch bắt đầu từ các tiểu đảo máu tạo nên mạch máu tân sinh [26]. Toàn bộ quá trình tân tạo mạch máu được điều khiển bởi yếu tố tân sinh mạch (VEGF = vascular endothelial growth factor). Quá trình phát triển mạch (Angiogenesis) là quá trình hình thành mạch máu từ những phần mạch tân sinh đã có sẵn [27].

Sơ đồ phát triển và hình thành mạch máu từ giai đoạn phôi thai Nguồn: Legiehn G. Dị dạng mao mạch Có tỷ lệ chung là 0,3%, không có sự khác biệt giữa nam và nữ [28]. Cơ chế bệnh sinh của dị dạng mao mạch vẫn chưa rõ. Một số nghiên cứu xác nhận đột biến gien gây ra dị dạng mao mạch trong các hội chứng như Sturge Weber (RASA1, 5q 14.3), Klippel Trenaunay (PIK3CA, 3q 26.

Dị dạng bạch mạch Tương tự như dị dạng mao mạch, cơ chế bệnh sinh vẫn chưa biết rõ. Nhiều tác giả vẫn nghi ngờ khả năng đột biến gien RAS/MAPK, gien mã hoá các protein tác động đến yếu tố VEGF-3 và VEGFc, tác nhân gây dị dạng bạch mạch thông qua tác động đến con đuờng tín hiệu PI3K/AKT [32]. Tỷ suất của dị dạng bạch mạch theo ước tính vào khoảng 1/12.000 là dị dạng bạch mạch khoang lớn [33] và khoảng 1 trên 5. Sơ đồ dị dạng bạch mạchGhi nhận giãn lớn các bạch mạch (macro lymphatic malformation) và các cấu trúc giãn nhỏ (micro lymphatic malformation).

Ghi nhận không có sự thông nối giữa các hệ thống bạch mạch với đại tuần hoàn Nguồn: Mulliken và Young, 2013 [36] 9 1. Dị dạng tĩnh mạch Dị dạng tĩnh mạch có tỷ suất mắc bệnh vào khoảng 1 trên 10. Các gien đột biến được cho là nguyên nhân gây nên dị dạng tĩnh mạch: thụ thể Tyrosin Kinase (TKR), gien 9p, hoặc tăng hoạt các gien tạo tế bào nội mô như Beta TGF, Beta FGF, VG5Q [38], [39]. Ngoài ra, đột biến gien thể khảm, gây ảnh huởng đến tiến trình truyền tín hiệu tế bào RAS/MAPK, cũng là nguyên nhân gây bệnh [24].

Dị dạng tĩnh mạch có thể phối hợp với dị dạng bạch mạch hoặc mao mạch, vị trí phân bổ như sau: đầu mặt cổ (40%), thân (20%), chi (40%) [26], [33], [40], [41]. Sơ đồ minh hoạ dị dạng tĩnh mạch với các tổn thương ở mức tiểu tĩnh mạch và các khoang tĩnh mạch dị dạng thông nối với hệ đại tuần hoàn Nguồn: Mulliken và Young, 2013 [36] 1. Dị dạng động tĩnh mạch Cơ chế sinh bệnh chưa rõ ràng, một số trường hợp do đột biến gien mang tính chất di truyền có thể hình thành nên dị dạng động tĩnh mạch. Ví dụ như dị dạng giãn động tĩnh mạch xuất huyết di truyền (HHT: Hereditary Hemorrhagic Telengiectasia) do đột biến gien ENG (gien mã hoá endoglin) hoặc gien ACVRL1 (gien mã hoá activin receptor like kinase).

Đây là bệnh lý dị dạng mạch 10 máu duy nhất được chứng minh cụ thể do yếu tố di truyền. Ngoài ra, tất cả các loại dị dạng động tĩnh mạch khác đều nghi ngờ do rối loạn các gien tại chỗ: RASA1 (Ras p21 protein activator 1), PTEN (Phospatase and tensin homolog), MEK1 (Mitogen activated protein kinase 1), và cần yếu tố bên ngoài kích hoạt thứ phát [23], [30], [42]. Dị dạng thông động tĩnh mạch trực tiếp Là loại dị dạng không thường gặp so với các loại dị dạng khác, gặp trong các bệnh cảnh như HHT, các bệnh lý thành mạch như loạn sản sợi cơ (fibromuscular dystrophy), làm tổn thương thành động mạch, gây rò trực tiếp động tĩnh mạch [43]. Đối với bệnh lý dị dạng thông động tĩnh mạch trực tiếp, phổi, hệ thần kinh trung ương là những cơ quan thường gặp nhất [29] Hình 1.

A: Chụp cắt lớp vi tính bệnh lý thông động tĩnh mạch phổi trực tiếp ở bệnh nhân bị bệnh HHT. B: Chụp mạch máu số hoá xoá nền thông động tĩnh mạch trực tiếp ở bệnh nhân HHT Nguồn: Carret [44], Gonzalez [45] 1. LÂM SÀNG DỊ DẠNG MẠCH MÁU Dị dạng mạch máu xuất hiện sớm từ khi sinh, đa phần không biểu hiện triệu chứng, hoặc triệu chứng nhẹ không đáng kể. Triệu chứng lâm sàng khởi phát thường gặp ban đầu gồm: tổn thương thay đổi màu, biến dạng tại vị trí tổn 11 thương, chảy máu, rỉ dịch bạch huyết.

Khi bệnh diễn tiến, các triệu chứng lâm sàng khác sẽ xuất hiện: đau, chảy máu, nhiễm trùng, loét, là nguyên nhân nhập viện điều trị của bệnh nhân. Bệnh nhân bị dị dạng mạch máu, có thể có một hoặc nhiều triệu chứng đặc hiệu sau: Đau, là triệu chứng thường gặp nhất, đặc biệt đối với dị dạng tĩnh mạch và dị dạng động tĩnh mạch. Với dị dạng tĩnh mạch, đau đặc hiệu khi thức dậy, có thể giảm đau khi dùng thuốc kháng kết tập tiểu cầu. Đau trong dị dạng động tĩnh mạch, thường ở phần xa chỗ tổn thương do hiện tượng thiếu máu nuôi; đau dữ dội kiểu dao đâm, hoặc kiểu bóp nghẹt.

Các triệu chứng khác: cảm giác nặng ở vị trí tổn thương, mảng bầm; tăng tiết mồ hôi tại vùng tổn thương, rậm lông; nóng; chảy máu hoặc rỉ dịch.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Chẩn Đoán và Điều Trị Dị Dạng Mạch Máu Ngoại Biên Bằng Tiêm Cồn Tuyệt Đối" cung cấp cái nhìn sâu sắc về phương pháp điều trị dị dạng mạch máu ngoại biên thông qua kỹ thuật tiêm cồn tuyệt đối. Bài viết nêu rõ quy trình chẩn đoán, các chỉ định và chống chỉ định của phương pháp này, cũng như những lợi ích mà nó mang lại cho bệnh nhân, như giảm thiểu đau đớn và cải thiện chất lượng cuộc sống. Đặc biệt, bài viết còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi sau điều trị để đảm bảo hiệu quả lâu dài.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các nghiên cứu liên quan đến sức khỏe và điều trị, hãy tham khảo bài viết Luận án tiến sĩ nghiên cứu mối liên quan giữa resistin visfatin với một số nguy cơ tim mạch chuyển hóa ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2, nơi bạn có thể khám phá mối liên hệ giữa các yếu tố sinh học và nguy cơ tim mạch. Ngoài ra, bài viết Đánh giá sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp ở trung tâm y tế huyện giồng riềng tỉnh kiên giang năm 2021 sẽ cung cấp thông tin về sự tuân thủ trong điều trị bệnh lý mạn tính. Cuối cùng, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ nghiên cứu lâm sàng xquang đánh giá hiệu quả điều trị hẹp chiều ngang xương hàm trên bằng hàm nong nhanh kết hợp với minivis để hiểu thêm về các phương pháp điều trị khác trong lĩnh vực y học. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề sức khỏe liên quan.