Chăm sóc điều dưỡng bệnh nhi dưới 5 tuổi nhiễm virus RSV tại Vinmec Times City

{"id":262,"name":"Y dược - Sinh học"} Nghiên cứu chi tiết về chăm sóc điều dưỡng trẻ dưới 5 tuổi nhiễm virus hợp bào hô hấp (RSV), đưa ra các giải pháp thực tiễn và hiệu quả.

Trường đại học

Đại học Thăng Long

Chuyên ngành

Điều dưỡng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2024

113
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về virus RSV và đặc điểm lâm sàng

Virus hợp bào hô hấp (RSV) là một trong những nguyên nhân chính gây nhiễm trùng hô hấp cấp ở trẻ em dưới 5 tuổi. RSV thuộc họ Paramyxoviridae, có khả năng gây viêm tiểu phế quản và viêm phổi nghiêm trọng. Virus này lây truyền qua giọt bắn từ đường hô hấp trên của người bệnh sang người khác. Triệu chứng lâm sàng thường xuất hiện từ 2-8 ngày sau lây nhiễm, bao gồm sốt, ho, khó thở và rút lõm lồng ngực. Các dấu hiệu sinh tồn bất thường như tachypnea, tachycardia và hypoxemia là những chỉ báo quan trọng cần theo dõi. Trẻ em có yếu tố nguy cơ như sinh non, bệnh tim bẩm sinh hoặc suy giảm miễn dịch dễ mắc biến chứng nặng hơn.

1.1. Cấu trúc và đặc điểm của virus RSV

Virus hợp bào hô hấp là virus bọc, chứa RNA đơn sợi âm chiều. Virus này có các protein bề mặt đặc biệt giúp nó lây nhiễm vào tế bào đường hô hấp. RSV gây nhiễm trùng hô hấp cấp thông qua cơ chế phá huỷ tế bào biểu mô đường hô hấp. Virus có khả năng gây miễn dịch không đủ, cho phép tái nhiễm lặp lại. Điều này làm cho chăm sóc điều dưỡng trở nên cần thiết và phức tạp hơn.

1.2. Triệu chứng lâm sàng chính

Trẻ bệnh thường biểu hiện ho kéo dài, khò khè và khó thở. Rút lõm lồng ngực là dấu hiệu điển hình của nhiễm trùng hô hấp dưới. Sốt thường cao trong 3-5 ngày đầu. Một số trường hợp nặng có thể xảy ra suy hô hấp, cyanose và tình trạng suy kiệt. Dấu hiệu sinh tồn bất thường là những chỉ báo cần can thiệp điều dưỡng ngay lập tức.

II. Quy trình chăm sóc điều dưỡng bệnh nhi RSV

Chăm sóc điều dưỡng bệnh nhi nhiễm RSV đòi hỏi phải theo dõi sát sao và can thiệp kịp thời. Điều dưỡng viên cần thực hiện theo dõi dấu hiệu sinh tồn liên tục, đặc biệt là nhịp thở, độ bão hòa oxy và tần số tim. Cần cách ly bệnh nhi để ngăn chặn lây lan virus, áp dụng các biện pháp phòng ngừa lây nhiễm chặt chẽ. Hỗ trợ hô hấp bằng oxy nếu cần thiết và thực hiện hút dịch đường hô hấp định kỳ. Xử lý nước, điện giải và dinh dưỡng đúng cách rất quan trọng. Giáo dục sức khỏe cho gia đình về cách phòng bệnh và theo dõi tình trạng bệnh nhi cũng là phần không thể thiếu của quy trình chăm sóc.

2.1. Theo dõi và duy trì đường hô hấp thông thoáng

Đảm bảo đường hô hấp thông thoáng là ưu tiên hàng đầu. Thực hiện hút dịch mũi họng định kỳ bằng ống hút vô trùng. Giữ trẻ ở tư thế nửa ngồi (30-45 độ) để giảm khó thở. Cung cấp oxy được tính toán phù hợp với dấu hiệu sinh tồn. Theo dõi DHST bao gồm nhịp thở, oxygen saturation, độ bão hòa máu oxygen hàng giờ.

2.2. Cách ly và phòng ngừa lây nhiễm chéo

Thực hiện cách ly bệnh nhi trong phòng riêng hoặc khu vực cách ly. Sử dụng phương pháp phòng bệnh tiêu chuẩn: rửa tay sạch, đeo khẩu trang, sử dụng găng tay và áo choàng. Hạn chế tiếp xúc của bệnh nhi với người nhà. Vệ sinh dụng cụ chăm sóc và môi trường hàng ngày. Đây là những biện pháp phòng bệnh hiệu quả trong chăm sóc điều dưỡng.

2.3. Hỗ trợ dinh dưỡng và cân bằng nước

Đánh giá khả năng ăn uống của bệnh nhi. Nếu bệnh nhi khó ăn hoặc suy kiệt, cần hỗ trợ dinh dưỡng thích hợp. Duy trì cân bằng nước bằng cách theo dõi lượng nước uống vào và nước tiểu ra. Cấp giáo dục sức khỏe cho gia đình về điều dưỡng hỗ trợ tại nhà.

III. Can thiệp y tế hỗ trợ trong điều trị RSV

Điều trị nhiễm trùng hô hấp do RSV chủ yếu là chăm sóc hỗ trợ vì không có thuốc kháng virus đặc hiệu. Tuy nhiên, những can thiệp y tế quan trọng bao gồm sử dụng oxy liệu pháp để duy trì dấu hiệu sinh tồn ổn định. Trong những trường hợp nặng, có thể cần sử dụng NCPAP (thở áp lực dương liên tục qua mũi) hoặc thông khí cơ học. Các xét nghiệm cận lâm sàng như RT-PCR, ELISA giúp xác định chẩn đoán RSV chính xác. X-Quang phổi được chỉ định để đánh giá mức độ tổn thương phổi. Công thức máuCRP giúp theo dõi phản ứng viêm. Điều dưỡng cần nắm rõ về những xét nghiệm này để hỗ trợ quá trình chẩn đoán và theo dõi tiến triển bệnh.

3.1. Oxy liệu pháp và hỗ trợ hô hấp

Cấp oxy dựa trên dấu hiệu sinh tồn - khi SpO2 dưới 90-92%. Sử dụng NCPAP nếu bệnh nhi có suy hô hấp. Điều dưỡng phải kiểm tra đều đặn độ bão hòa oxy và ghi chép chính xác. Rút lõm lồng ngực nghiêm trọng là dấu hiệu cần tăng mức hỗ trợ hô hấp.

3.2. Xét nghiệm cận lâm sàng chẩn đoán

RT-PCR là tiêu chuẩn vàng chẩn đoán RSV. ELISA và xét nghiệm kháng nguyên cũng được sử dụng. X-Quang phổi giúp đánh giá viêm phế quản phổi hoặc viêm phổi. Công thức máu theo dõi bạch cầu và CRP đánh giá mức độ viêm. Kết quả xét nghiệm hướng dẫn chăm sóc điều dưỡng và điều trị.

IV. Giáo dục sức khỏe và phòng ngừa RSV

Giáo dục sức khỏe (GDSK) cho gia đình là phần thiết yếu của chăm sóc điều dưỡng bệnh nhi RSV. Gia đình cần hiểu rõ về các triệu chứng, yếu tố nguy cơ và dấu hiệu cảnh báo cần đưa trẻ tới bệnh viện khẩn cấp. Phòng bệnh RSV bao gồm rửa tay thường xuyên, tránh tiếp xúc với người bệnh, không chia sẻ đồ vật cá nhân. Trẻ sinh non hoặc có bệnh mãn tính cần theo dõi sát sao trong mùa RSV. GDSK về vệ sinh đường hô hấp, xử lý khủi, sốt và các biện pháp chăm sóc tại nhà rất quan trọng. Điều dưỡng cần tương tác với gia đình, giải đáp thắc mắc và tạo sự tin tưởng để phòng bệnh hiệu quả. Theo dõi tình trạng sau khi xuất viện là chìa khóa để tránh biến chứng.

4.1. Các biện pháp phòng ngừa RSV cho trẻ

Rửa tay sạch trước khi chăm sóc trẻ. Tránh lây nhiễm chéo bằng cách hạn chế tiếp xúc với người bệnh hoặc người nghi ngờ. Tiêm vắc xin phòng bệnh (nếu có). Trẻ sinh non cần xem xét prophylaxis với palivizumab trong mùa RSV. Tránh khí ô nhiễm, khói thuốc lá. Duy trì vệ sinh môi trường sống.

4.2. Hướng dẫn theo dõi sau xuất viện

Gia đình cần theo dõi dấu hiệu sinh tồn hàng ngày. Liên hệ với bệnh viện nếu trẻ có rút lõm lồng ngực trở lại, khó thở, hoặc sốt cao. Đảm bảo trẻ cải thiện từng ngày. Tư vấn về GDSK dinh dưỡng, vệ sinh và phục hồi sức khỏe. Hẹn tái khám theo hướng dẫn của bác sỹ.

4.3. Trao đổi với gia đình về hành trình bệnh tật

Giải thích rõ ràng tình trạng hiện tại và kế hoạch chăm sóc cho trẻ. Trả lời những câu hỏi về nhiễm trùng hô hấp và thời gian phục hồi. Chia sẻ những thành công trong phục hồi chức năng hô hấp. Tạo môi trường hỗ trợ tâm lý cho gia đình.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Đặc điểm giải phẫu hệ hô hấp trẻ em Bộ máy hô hấp ở trẻ em không chỉ nhỏ hơn về kích thước so với người lớn mà còn có những đặc điểm riêng biệt về giải phẫu, do các bộ phận của hệ hấp chưa hoàn thiện và đang trong giai đoạn phát triển. Hệ Hô Hấp 1. Mũi Ở trẻ nhỏ, sự hô hấp bằng đường mũi còn hạn chế vì mũi và khoang hầu tương đối ngắn và nhỏ, lỗ mũi và ống mũi hẹp.

Vì vậy không khí đi vào không được sưởi ấm và lọc sạch đầy đủ. Niêm mạc mũi mỏng, mịn; lớp ngoài của niêm mạc gồm các biểu mô hình trụ giàu mạch máu và bạch huyết. Chức năng loại thải vi khuẩn, virus, bụi còn yếu do khả năng sát trùng của niêm dịch còn kém. Do những đặc điểm trên, khi bị nhiễm khuẩn ở mũi họng thì dễ gây xuất tiết, tắc mũi, phù nề ảnh hưởng đến hoạt động hô hấp của trẻ làm trẻ khó thở và khó bú [11].

3 Thư viện ĐH Thăng Long 1. Họng hầu Họng hầu trẻ em tương đối hẹp và ngắn, có hình phễu hẹp, sụn mềm và nhẵn. Họng phát triển mạnh trong năm đầu và vào tuổi dậy thì. Niêm mạc họng được phủ bằng lớp biểu mô rung hình trụ.

Vòng bạch huyết Waldayer phát triển mạnh lúc trẻ được 4-6 tuổi cho đến tuổi dậy thì. Ở trẻ nhỏ duới 1 tuổi, tổ chức bạch huyết thường chỉ thấy VA phát triển còn amygdales chỉ phát triển từ 2 tuổi trở lên. Khi VA bị viêm gây xuất tiết, phù nề vùng họng, gây tắc mũi sau làm trẻ phải thở bằng miệng. Thở bằng miệng sẽ không được sâu, không khí không được sưởi ấm, số lượng khí trao đổi ít hơn; lâu dần gây rối loạn toàn thân nghiêm trọng do thiếu khí kéo dài như: lồng ngực kém phát triển, bộ mặt VA.

VA cũng ở gần vòi Eustache nên viêm VA kéo dài là nguyên nhân của viêm tai giữa tái diễn [11]. Thanh, khí, phế quản 1. Thanh quản Có hình phễu mở rộng ở phía trên. Ở trẻ bú mẹ, thanh quản nằm ở vị trí cao hơn 2 đốt sống so với người lớn.

Thanh quản phát triển từ từ nhưng đến tuổi dậy thì thì phát triển mạnh. Dưới 6-7 tuổi, thanh môn hẹp, dây thanh đới ngắn. Vì vậy giọng nói của trẻ em cao hơn. Từ 12 tuổi, thanh đới con trai dài hơn con gái do đó giọng nói con trai trầm hơn [11].

Khí quản Niêm mạc khí quản nhẵn, nhiều mạch máu và tương đối khô do các tuyến của niêm mạc chưa phát triển. Sụn khí phế quản mềm, dễ co giãn. Phế quản Vị trí khí quản chia đôi thay đổi theo lứa tuổi: - Ở trẻ sơ sinh : ở đốt sống lưng III-IV. - Ở trẻ 2-6 tuổi : ở đốt sống lưng IV- V - Ở trẻ 12 tuổi : ở đốt sống lưng V- VI 4 - Nhánh phế quản phải tiếp tục hướng đi của khí quản và rộng hơn phế quản trái nên dị vật dễ rơi vào hơn.

Nhánh phế quản trái đi sang một bên và nhỏ hơn phế quản phải. Đặc điểm chung của thanh khí phế quản trẻ em là lòng tương đối hẹp, tổ chức đàn hồi ít phát triển, vòng sụn mềm dễ biến dạng và niêm mạc nhiều mạch máu. Do những đặc điểm trên, trẻ em dễ bị viêm nhiễm đường hô hấp, niêm mạc thanh khí phế quản dễ bị phù nề, xuất tiết và dễ biến dạng trong quá trình bệnh lý [11]. Trọng lượng Phổi trẻ em lớn dần theo tuổi.

Ở trẻ sơ sinh phổi chỉ nặng khoảng 50-60 gr. Khi trẻ 6 tháng tuổi, trọng lượng phổi tăng gấp 3 lần, và đến 12 tuổi thì tăng gấp 20 lần. Thể tích Thể tích phổi tăng nhanh theo tuổi: sơ sinh là 65ml, đến 12 tuổi tăng lên 10 lần. Kích thước phế nang và diện tích hô hấp cũng tăng nhanh.

Ở trẻ sơ sinh là 6 m2; ở người lớn là 50 m2. Như vậy diện tích hô hấp tính trên mỗi đơn vị trọng lượng cơ thể ở trẻ nhỏ ưu thế hơn người lớn. Điều này phù hợp với nhu cầu chuyển hóa cao ở trẻ nhỏ. Cấu tạo Từ sơ sinh đến 8 tuổi, phổi phát triển chủ yếu bằng tăng số lượng phế nang.

Từ 8 tuổi trở đi chủ yếu do sự tăng kích thước của phế nang. Phổi trẻ em có đặc điểm: nhiều mạch máu và bạch mạch, nhiều cơ trơn, ít tổ chức đàn hồi, đặc biệt là quanh các phế nang và thành bạch mạch. Các cơ hô hấp chưa phát triển hoàn chỉnh nên lồng ngực di động kém. Do những đặc điểm trên, phổi trẻ rất dễ bị xuất huyết, xẹp phổi, khí phế thủng.

Khi trẻ lớn lên, các túi phổi hoàn thiện dần, các phế nang mới được tạo ra thêm, tổ chức đàn hồi phát triển mạnh, tổ chức liên kết giữa các túi phổi giảm dần [11]. 5 Thư viện ĐH Thăng Long 1. Rãnh liên thùy Rãnh liên thùy phổi trẻ em ở lứa tuổi nhỏ không rõ rệt. Phổi phải có 2 rãnh: rãnh lớn nằm nghiêng phân cách thùy dưới với thùy trên và thùy giữa; rãnh bé nằm ngang phân cách thùy trên với thùy giữa.

Phổi trái chỉ có 1 rãnh. Rốn phổi Gồm phế quản gốc, thần kinh, mạch máu và nhiều hạch bạch huyết. Những hạch này liên hệ với các hạch khác ở phổi. Vì vậy bất kỳ một quá trình viêm nhiễm nào ở phổi đều có thể gây phản ứng đến các hạch rốn phổi [11].

Lồng ngực Lồng ngực trẻ sơ sinh tương đối ngắn, có hình trụ, đường kính trước-sau hầu như bằng đường kính ngang. Xương sườn nằm ngang và thẳng góc với cột sống, cơ hoành nằm cao và cơ liên sườn chưa phát triển đầy đủ. Do đặc điểm này khi trẻ hít vào, lồng ngực không thay đổi mấy và do đó cũng giải thích được tại sao trẻ nhỏ thở chủ yếu bằng cơ hoành. Khi trẻ biết đi, lồng ngực có sự thay đổi.

Các xương sườn chếch xuống dưới, đường kính ngang tăng nhanh và gấp 2 đường kính trước-sau. Do đó mỗi lần thở được sâu và nhiều hơn nhờ lồng ngực có thể thay đổi thể tích nhiều và đó cũng là điều kiện cần thiết để xuất hiện kiểu thở ngực [11]. Các đặc điểm sinh lý 1. Nhịp thở Trẻ sơ sinh, đặc biệt là trẻ đẻ non, nhịp thở rất nông và khóc yếu làm cho phổi giãn ra không hết, dễ đưa đến xẹp phổi và mềm phổi.

Ở thời kỳ sơ sinh, do trung tâm hô hấp chưa hoàn chỉnh nên nhịp thở dễ bị rối loạn với những cơn ngưng thở ngắn và thở lúc nhanh lúc chậm. Khi lớn lên hiện tượng này mất dần. Ở trẻ nhỏ, do thở nông nên nhịp thở của trẻ phải cao để đảm bảo cung cấp đủ oxy. Nhịp thở bình thường ở trẻ em Sơ sinh 40 – 60 lần/phút 3 tháng 40 - 45 lần/ phút 6 tháng 20 – 25 lần/ phút 1 tuổi 30 – 35 lần/ phút 3 tuổi 25 – 30 lần/phút 6 tuổi 20 – 25 lần/ phút 12 tuổi 18 – 20 lần/ phút 15 tuổi 15 – 16 lần/phút 1.

Kiểu thở - Sơ sinh: chỉ thở bằng mũi, thở bụng (thở cơ hoành), nhịp thở không đều. - Trẻ bú mẹ: thở bằng mũi cho đến 12-18 tháng. Kể từ 6 tháng tuổi có thể thở bằng miệng và kiểu thở hỗn hợp ngực-bụng, nhịp thở đều. - Trẻ trên 2 tuổi: thở giống như người lớn.

Một số đặc điểm của virus hợp bào hô hấp 1. Lịch sử nghiên cứu virus hợp bào hô hấp Virus hợp bào hô hấp (Respiratory syncytial virus: RSV) được phân lập lần đầu tiên trên thế giới vào năm 1956 từ loài tinh tinh nên ban đầu được đặt tên là tác nhân gây cúm ở tinh tinh (CCA: chimpanzee coryza agent). Năm 1957, Robert M Chanock và Finberg đã phân lập được loại virus này từ 2 trẻ bị nhiễm khuẩn hô hấp dưới. Chanock chính là người đặt tên cho loại virus này là virus hợp bào hô hấp dựa trên những thay đổi tế bào xảy ra trong đường dẫn khí và trong phổi khi bị nhiễm RSV.

Sau đó tác giả đã phân typ A và B của RSV ở những bệnh nhân nhiễm trùng hô hấp cấp (NTHHC). Năm 1960, Beem và cộng sự đã mô tả những đặc điểm cơ bản về dịch tễ học ở nhiễm RSV ở trong một vụ dịch cúm xảy ra. Vào thập niên 1970, các tác giả Cradock-Watson, Brandt, Gardner, Kim, Parrott và Henderson cùng nhận thấy RSV chính là tác nhân gây bệnh trong phần lớn trường hợp viêm tiểu phế quản (VTPQ) ở trẻ em. 7 Thư viện ĐH Thăng Long 1.

Cấu trúc của virus hợp bào hô hấp Hình 1. Mô hình cấu trúc của virus hợp bào hô hấp Virus hợp bào hô hấp thuộc họ Paramyxoviridae, là thành viên duy nhất của giống Pneumovirus. RSV có cấu trúc hình cầu, đường kính trung bình: 120 – 130 nm. Thành phần của virus này bao gồm: ARN 1%, protein 73%, lipid 20%, carbonhydrat 6%.

Cấu trúc di truyền của RSV là sợi ARN mang điệnt tích âm, thẳng, không phân đoạn, kích thước 16-20 kb, khối lượng phân tử 5*106 Dalton. RSV không tái sắp xếp cấu trúc thường xuyên nên chúng cũng bền vững về mặt kháng nguyên giống như các Pneumovirus khác. RSV có nucleocapsit đối xứng, xoắn được bao bọc bởi vỏ ngoài với các gai glycoprotein F và G, dài 12 – 15 mm. RSV có vỏ bọc là lipit kép với cấu tạo 8 protein cấu trúc và 2 protein không cấu trúc.

RSV không bền vững trong môi trường tự nhiên. Trên đồ đạc hoặc quần áo, RSV có thể sống được 6 – 7 giờ. Chúng dễ dàng bị bất hoạt bởi chất tẩy rửa, xà phòng, dung môi lipid và pH < 3. Bệnh phẩm bảo quản ở nhiệt độ - 70C.

Khi đó virus tạm ngừng hoạt động. Phân lập virus hợp bào hô hấp RSV có hai nhóm kháng nguyên A và B, được xác định bởi kháng nguyên đơn 8 dòng. Người ta không chắc chắn rằng kháng nguyên nhóm A gây bệnh nặng hơn kháng nguyên nhóm B hay không. Các nhóm kháng nguyên đều có protein cấu trúc: G, F, N, M và P.

Sự khác biệt giữa hai nhóm kháng nguyên chủ yếu là do protein G và F. F glycoprotein giống 50% giữa hai phân nhóm trong khi G glycoprotein chỉ giống nhau 1-5%. Phương pháp nuôi cấy virus Nuôi cấy là phương pháp cổ điển để phân lập virus. RSV rất dễ biến dạng nên mẫu bệnh phẩm phải được đưa ngay vào môi trường canh cấy.

Đông lạnh mẫu bệnh phẩm có thể làm mất hoàn toàn khả năng lây nhiễm. Nhận biết RSV bằng cách quan sát sự phát triển của tế bào khổng lồ trong môi trường canh cấy. Như vậy, cần 10 ngày để phát hiện ra virus. Đây cũng chính là nhược điểm của phương pháp này [7].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ