đặt vấn đề về khả năng có một taxon thứ 3 trong giống Pygathrix [26]. Sau này, Roos và Nadler (2001) đã nghiên cứu trình tự ADN trong ty thể các loài trong giống Chà vá và kết quả góp phần khẳng định có 3 loài trong giống Pygathrix gồm P. Kết quả phân tích di truyền học cho thấy, loài P. cinerea có mối quan hệ gần với loài P.
nemaeus hơn là loài P.2 Hiện trạng phân bố của 3 loài Chà vá Cả 3 loài trong giống Pygathrix đều phân bố dọc theo dãy Trường Sơn (Annamite Mountain Range) theo hướng từ Bắc đến Nam và trải rộng trên 3 quốc gia gồm Lào, Việt Nam, và Campuchia (Hình 1. nemaeus có ghi nhận ở cả 3 quốc gia [42]. nigripes phân bố ở phía Nam Việt Nam và phía Đông của Campuchia [46] và loài P. cinerea được xem là chỉ có ở Việt Nam [55].
Phân vùng địa lý của 3 loài Chà vá và nguyên nhân dẫn đến sự phân vùng vẫn đang được nghiên cứu và cập nhật. 8 Nguồn: Dữ liệu vector từ website của IUCN threatened list of species cập nhật năm 2020 Hình 1. Bản đồ phân bố của 3 loài Chà vá trên thế giới. Từ dữ liệu tọa độ địa lý các điểm phân bố của 3 loài Chà vá, Bett và cộng sự (2011) đã sử dụng mô hình toán học Maxent để xác định tổ sinh thái (ecological niches) của từng loài và nguyên nhân dẫn đến sự hình thành các vùng này.
Mô hình dự đoán tổ sinh thái dựa trên các chỉ số môi trường sống (ENMs) của Maxent cho thấy tổ sinh thái của 3 loài phân bố theo độ cao theo hướng từ Bắc đến Nam. Cụ thể, loài P. nemaeus phân bố từ 210N đến 120N, P. 9 cinerea phân bố từ 160N đến 140N, loài P.
nigripes thì phân bố từ 110N đến 13. cinerea hình thành từ loài P. nemaeus nên tổ sinh thái hoàn toàn nằm chồng lên tổ sinh thái ở phía Nam của loài P. nemaeus ở khu vực Tây Nguyên, Việt Nam.
Kết quả này cũng phù hợp với các bằng chứng di truyền học về con lai giữa 2 loài này đã được xác định ở Quảng Nam và Đông Bắc Campuchia. Trong khi đó, giữa 2 loài P. nigripes thì có sự tách biệt rõ ràng về tổ sinh thái. Bett và cộng sự (2011) cho rằng, mô hình phân bố này cũng giống như các loài thú khác trong khu vực.
Nguyên nhân có thể là tác động từ rào cản về địa lý, chia cắt vùng sống trong thời gian dài, hoặc biến đổi khí hậu trong lịch sử [31]. Các nghiên cứu khác có sử dụng Maxent đều cho rằng, kết quả của mô hình phụ thuộc vào tính chính xác của nguồn dữ liệu đầu vào, đặc biệt là dữ liệu tọa độ phân bố của các loài và các lớp dữ liệu thuộc tính về môi trường sống và khí hậu [110] [90] [31]. Mới đây, nhóm nghiên cứu của Viện sinh thái học Miền Nam (SIE) đã phát hiện một đàn CVCX có 5 cá thể ở rừng phòng hộ Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Đây cũng là điểm xa nhất về phía Nam của loài này (13030'N) và nằm sâu bên trong vùng phân bố của loài Chà vá chân đen [5].
Theo Hoàng Minh Đức và cộng sự (2015), có thể quần thể CVCX ở đây lớn hơn so với số lượng đã quan sát được. Những ghi nhận mới này sẽ góp phần làm rõ thêm về phân vùng địa lý của loài và cần được bổ sung vào trong các nghiên cứu ứng dụng Maxent trong tương lai. Đặc điểm sinh học Cả 3 loài Chà vá (Hình 1.2) đều có bộ lông có 3-5 màu và sặc sỡ hơn so với các loài linh trưởng khác ở khu vực Châu Á. Cả 3 loài đều có đuôi dài màu trắng.
cinerea có chiều dài đuôi bằng với chiều dài thân đầu. nigripes thì chiều dài dài đuôi lớn hơn chiều dài thân đầu. Chân và tay dài thích hợp với đời sống trên cây. Cấu tạo xương cánh tay phù hợp với 10 tập tính đu người, chuyền cành, và nhảy xa từ cành này sang cành khác [86].
Đời sống của Chà vá chủ yếu ở trên cây nhưng cũng thời gian di chuyển xuống đất để ăn đất [98] hoặc uống nước [109] [88]. nemaeus(3) Ghi chú: (1) Phan Văn Biền, (2), (3) Bùi Văn Tuấn Hình 1. Hình thái ngoài của 3 loài Chà vá. Cả 3 loài Chà vá đều sống theo kiểu bầy đàn [68].
Cấu trúc đàn cơ bản là 1 con đực sống chung với nhiều con cái và con của chúng (OMU). Các đàn đơn đực có thể đi cùng với nhau tạo thành những đàn nhiều đực và nhiều cái (MM/MFMU) với số lượng lên đến 30 – 90 cá thể. Một số nghiên cứu ghi nhận kiểu đàn chỉ có các con đực đi kiếm ăn cùng nhau gọi là kiểu đàn đa đực [52]. Thức ăn và tập tính ăn Cả 3 loài Chà vá thuộc nhóm Khỉ ăn lá (Leaf monkey).
Thành phần thức ăn bao gồm là các bộ phận của các loài thực vật bậc cao. Trong đó, lá cây chiếm tỉ lệ cao nhất (50-70%), tiếp theo là quả, hoa, cuống lá, vỏ cây. Thành phần loài cây Chà vá ăn rất đa dạng. Trong các nghiên cứu về quỹ thời gian hoạt động trong ngày cho thấy Chà vá dành khoảng 15-25% quỹ thời gian trong ngày cho việc ăn.
Thành phần thức ăn cũng có sự khách biệt giữa các độ tuổi, 11 giới tính, và có sự thay đổi theo mùa. Có mối tương quan giữa sự sẵn có của thức ăn với tập tính lựa chọn thức ăn của Chà vá [52]. Sinh sản và tuổi thọ Các loài Chà vá có đều có chu kỳ kinh nguyệt khoảng 28-30 ngày. Thời kỳ mang thai kéo dài khoảng 140-180 ngày.
Con non sinh ra bú sữa mẹ trong những tháng đầu tiên. Hoạt động giao phối ở con trưởng thành có thể diễn ra bất kỳ thời điểm nào trong năm, nhưng con non chủ yếu ghi nhận nhiều trong mùa xuân từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau [86]. Trong giống Pygathrix, loài P. nemaeus được nhập khẩu về các vườn Thú ở Mỹ và được nghiên cứu kỹ đặc điểm sinh sản và tuổi thọ.
Vào thời kỳ chuẩn bị có kinh nguyệt, da ở hai bên vùng bẹn của con cái chuyển sang màu đỏ rất dễ nhìn thấy. Màu đỏ sẽ được duy trì trong suốt thời kỳ con cái mang thai. Sau khi sinh con, màu đỏ ở hai bẹn trở lại thành màu trắng. Trong thời kỳ mang thai, con cái sẽ di chuyển chậm, nhẹ nhàng, và ít tham gia vào các hoạt động xã hội của đàn.
Con non có thể ghi nhận quanh năm, nhưng tỉ lệ cao nhất rơi vào tháng 1 đến tháng 6. Con đực bắt đầu có các hành vi giao phối từ năm tuổi thứ 4 trở đi, và ở con cái là 3,5 tuổi. Tuổi thọ của loài P. nemaeus có thể kéo dài từ 28-30 năm trong điều kiện nuôi nhốt.
Cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào về tuổi thọ của cả 3 loài Chà vá trong điều kiện tự nhiên [67]. Tổng quan về loài Chà vá chân xám 1. Phân loại học Loài CVCX có tên khoa học đầy đủ là Pygathrix cinerea Nadler, 1997 nằm trong giống Chà vá (Pygathrix), Phân họ Voọc (Colobinae), Họ Khỉ (Ceropithecidae) và Bộ linh trưởng (Primates) [77]. Đặc điểm hình thái ngoài Bộ lông của CVCX có 5 màu khác biệt.
Ở con trưởng thành, bộ lông ở phần đỉnh đầu, lưng, dưới cánh tay và đùi có màu xám tro. Đầu tròn không có lông mào trên đỉnh đầu. Da ở vùng trán, má và xung quanh mũi có màu vàng cam sáng. Lông ở quanh miệng và cằm có màu trắng.
Ở phần cổ có dải lông màu đỏ cam. Lông ở vùng quanh mặt kéo đến hai tai dài và có màu xám sáng. Phần đùi của chi sau và trên bả vai kéo đến khủy của chi trước lông có màu xám đen. Da ở bàn tay và bàn chân có màu đen.
Con non của CVCX có bộ lông màu vàng cam và thay đổi dần theo thời gian [86]. CVCX trưởng thành có trọng lượng cơ thể trung bình ở con đực và con cái tương ứng 11,5 kg và 8,45 kg. Kích thước thân khoảng 63 cm ở con đực và 57 cm ở con cái. Đuôi thuôn và dài trung bình khoảng 54 – 60 cm.
Gốc đuôi và toàn bộ lông đuôi có màu trắng [88].3 Phân bố và hiện trạng quần thể loài Chà vá chân xám Cho đến nay, loài CVCX vẫn được xem là loài đặc hữu chỉ có ở Việt Nam [86] và được tìm thấy trong các khu rừng ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Gia Lai, và Kon Tum. Trữ lượng quần thể khoảng 1. Có 14 khu vực phân bố của loài đã được xác định và thống kê số lượng cá thể. Chỉ có 4/14 quần thể phân bố trong các khu rừng được bảo vệ gồm VQG KKK và KBTTN Kon Chư Răng, tỉnh Gia Lai; VQG Sông Thanh và VQG Ngọc Linh, tỉnh Quảng Nam [55].
Trước đây, quần thể ở VQG KKK được xem là có trữ lượng lớn nhất với hơn 250 cá thể [51]. Nhưng khảo sát của nhóm chuyên gia bảo tồn của tổ chức Bảo tồn động thực vật hoang dã quốc tế (FFI, 2016) đã phát hiện và ghi nhận quần thể lớn hơn (khoảng 500 cá thể) ở rừng phòng hộ Kon Plong, tỉnh Kon Tum [111]. Nhiều khu rừng trong vùng phân bố của loài vẫn chưa được khảo sát và cập nhật [55]. Sinh cảnh sống Chà vá chân xám được phát hiện trong nhiều kiểu sinh cảnh rừng khác nhau như kiểu rừng là rộng thường xanh, kiểu rừng bán rụng lá, rừng thứ sinh núi thấp, và cả kiểu rừng đã bị suy thoái nặng do khai thác và tác động của con người.
Trong các vùng sống kể trên, CVCX thường được tìm thấy chủ yếu ở độ cao từ 900-1.300m so với mực nước biển [48] [49] [50] [51]. Độ cao thấp nhất ghi nhận phân bố của loài từ 150-300m ở xã Tam Mỹ Tây, huyện Núi Thành, Quảng Nam [36]. Đặc điểm sinh thái học * Thời gian hoạt động: Chà vá chân xám là loài hoạt động ban ngày và sống chủ yếu trên cây [52], nhưng thỉnh thoảng có thể xuống đất để uống nước hoặc liếm chất khoáng trong đất [79]. Trong ngày, CVCX thường bắt đầu hoạt động từ 5:00 – 6:00 sáng và kết thúc hoạt động trong ngày vào lúc 17:00 – 17:45.
Thời gian hoạt động trong ngày có sự thay đổi theo mùa và từng tháng trong năm [14] [52]. * Quỹ thời gian dành cho các hoạt động trong ngày: Quần thể CVCX ở VQG KKK dành thời gian nhiều nhất cho việc nghỉ ngơi (37,01%), tiếp theo là hoạt động di chuyển (25,81%) và hoạt động xã hội 25,14%, quỹ thời gian ăn chỉ chiếm 11,92%. Quỹ thời gian dành cho các hoạt động có sự thay đổi ở các độ tuổi, giới tính, theo các tháng, và theo mùa trong năm.