Tổng quan nghiên cứu
Loài Chà vá chân xám (Pygathrix cinerea Nadler, 1997) là loài linh trưởng đặc hữu quý hiếm của Việt Nam, hiện được xếp ở mức Cực kỳ nguy cấp (CR) trong Danh lục Đỏ của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) và Sách Đỏ Việt Nam. Quần thể loài trong tự nhiên ước tính chỉ còn dưới 2.000 cá thể và đối mặt với nguy cơ suy giảm trên 50% trong 30 năm tới do mất sinh cảnh sống và nạn săn bắt trái phép. Phần lớn các đàn linh trưởng sinh sống ở các cánh rừng tự nhiên có độ cao từ 900m đến 1.300m. Tuy nhiên, tại xã Tam Mỹ Tây, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, các đàn Chà vá chân xám lại phân bố ở đai độ cao thấp bất thường từ 110m đến 600m trong những vạt rừng tự nhiên nghèo kiệt, bị cô lập giữa các vùng rừng trồng keo sản xuất.
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Sinh thái học của tác giả Bùi Văn Tuấn, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Hà Thăng Long tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, được thực hiện nhằm giải quyết bài toán cấp bách về bảo tồn loài linh trưởng đặc hữu này. Mục tiêu nghiên cứu tập trung làm rõ hiện trạng quần thể, cấu trúc bầy đàn, đặc điểm thảm thực vật và các chỉ số sinh thái học hành vi của loài trong điều kiện sinh cảnh bị chia cắt nghiêm trọng. Phạm vi nghiên cứu thực địa được triển khai trong 110 ngày, kéo dài từ tháng 1 năm 2020 đến tháng 3 năm 2021 tại 9 khoảnh rừng tự nhiên phân tán với tổng diện tích ước tính khoảng 86,0 ha, trong đó khu vực trọng điểm là Hòn Dồ có diện tích 10,57 ha. Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng chính xác để chính quyền tỉnh Quảng Nam cùng các tổ chức bảo tồn thiết lập hành lang sinh thái, ngăn chặn suy thoái nguồn gen và nâng cao tỷ lệ sống sót của các cá thể non lên trên 85%.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên Thuyết Đảo sinh thái học (Island Biogeography Theory) và Thuyết Phân mảnh sinh cảnh (Habitat Fragmentation Theory). Hai lý thuyết này luận giải cơ chế suy thoái quần thể và biến đổi hành vi thích nghi khi sinh cảnh tự nhiên bị chia cắt thành các đảo sinh thái biệt lập bao quanh bởi môi trường nhân tạo. Bên cạnh đó, luận văn tích hợp Lý thuyết Tổ sinh thái (Ecological Niche Theory) và mô hình phân bố loài MaxEnt để đánh giá sự phân tầng không gian và giới hạn chịu đựng sinh thái của linh trưởng ăn lá ở đai độ cao thấp.
Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm: Đơn vị một con đực sống cùng nhiều con cái (One Male Unit - OMU); Đơn vị đa đực đa cái (Multi-Male/Multi-Female Unit - MM/MFMU); Quỹ thời gian hoạt động (Activity Budget) đại diện cho tỷ lệ phân bổ thời gian cho các tập tính sinh tồn; Sinh cảnh ốc đảo (Habitat Island) biểu thị các khoảnh rừng tự nhiên bị cô lập hoàn toàn bởi rừng trồng keo; và Bảo tồn nguyên vị (In-situ Conservation) định hướng duy trì và phục hồi quần thể ngay tại sinh cảnh bản địa.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập toàn diện qua 110 ngày điều tra thực địa. Khảo sát hiện trạng sử dụng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc với cỡ mẫu 50 người, bao gồm cán bộ kiểm lâm địa bàn, cán bộ nông lâm nghiệp xã và người dân địa phương. Điều tra cấu trúc thảm thực vật được thực hiện dọc theo 1.800m tuyến khảo sát và 4 ô tiêu chuẩn (OTC) kích thước 10m x 50-60m tại Hòn Dồ. Dữ liệu tập tính được trích xuất từ 115 giờ video chọn lọc trong tổng số hơn 200 giờ ghi hình bằng máy quay chuyên dụng Nikon Coolpix P1000 gắn chân máy tại 5 trạm quan sát ngụy trang.
Phương pháp lấy mẫu tập tính cá thể tiêu điểm (Focal-Animal Sampling) theo dõi liên tục mỗi cá thể trong 7 phút 30 giây với khoảng cách ghi nhận 30 giây/mẫu quan sát, thu được 554 mẫu quan sát ở các nhóm tuổi trưởng thành, nhỡ và non. Phương pháp ghi nhận tự do (Ad-libitum) được kết hợp để thu thập các tập tính hiếm. Hành vi uống nước được theo dõi liên tục 24/24 giờ bằng hệ thống bẫy ảnh (Camera Trap) tự động tại các hố nước ĐN1, ĐN2, ĐN3. Phương pháp phân tích số liệu sử dụng kiểm định phi tham số Chi bình phương (Chi-square test) trên phần mềm SPSS 20 để đánh giá mức độ sai khác có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) giữa các biến tập tính, thành phần thức ăn với các biến độ tuổi, giới tính và mùa trong năm. Tọa độ không gian được định vị bằng máy Garmin 64S và xử lý bản đồ chuyên đề trên MapInfo 15.0.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, nghiên cứu ghi nhận chính xác 12 đàn Chà vá chân xám với tổng số từ 99 đến 104 cá thể phân bố rải rác tại 9 khoảnh rừng tự nhiên biệt lập trên địa bàn xã Tam Mỹ Tây. Hòn Dồ là nơi có mật độ quần thể lớn nhất với 31 cá thể (chiếm khoảng 29,8% tổng quần thể), tiếp theo là Hòn Ông với 16 cá thể và Hòn Nhọn với 15 cá thể. Cấu trúc bầy đàn tồn tại ở hai dạng chính là đàn đơn đực (OMU) và đàn đa đực đa cái (MM/MFMU), trong đó ghi nhận sự gia tăng tích cực của 7 cá thể con non mới sinh trong năm 2020.
Thứ hai, thảm thực vật tại Hòn Dồ ghi nhận tính đa dạng cao với 148 loài thực vật bậc cao thuộc 47 họ và 28 bộ. Cấu trúc rừng có mật độ cây đường kính ngang ngực từ 5cm trở lên đạt 821 cây/ha; trong đó tầng cây gỗ nhỏ có đường kính dưới 25cm chiếm 77,8% và cây có chiều cao vút ngọn từ 5m đến 15m chiếm trên 70,0% tổng số cây điều tra.
Thứ ba, quỹ thời gian hoạt động ban ngày (từ 5:00 đến 18:00) của loài tại Hòn Dồ thể hiện cấu trúc đặc thù: hoạt động xã hội chiếm tỷ lệ cao nhất với 35,53%, tiếp theo là nghỉ ngơi chiếm 29,60%, hoạt động ăn chiếm 23,47% và hoạt động di chuyển chiếm tỷ lệ thấp nhất với 11,40%. Tỷ lệ các hoạt động này có sự khác biệt rõ rệt theo từng nhóm tuổi và giới tính (p < 0,001).
Thứ tư, danh mục thức ăn của loài tại Hòn Dồ bao gồm 60 loài thực vật bậc cao, trong đó lá non (chiếm 52,3%) và quả (chiếm 21,8%) là hai thành phần chủ đạo cấu thành hơn 74,1% khẩu phần ăn. Đáng chú ý, loài đã thích nghi sử dụng cả chồi non của cây keo ngoại lai (Acacia sp.). Hệ thống bẫy ảnh đã ghi lại 40 video chứa 40 sự kiện độc lập ghi nhận cá thể xuống đất uống nước tại hố nước ĐN2 trong mùa khô khi nhiệt độ môi trường lên tới 35°C.
Thảo luận kết quả
Khi so sánh với quần thể Chà vá chân xám tại Vườn quốc gia Kon Ka Kinh (nơi cá thể dành 37,01% thời gian nghỉ ngơi, 25,81% di chuyển và 25,14% cho hoạt động xã hội), quần thể tại Hòn Dồ dành tỷ lệ thời gian cho hoạt động xã hội cao hơn đáng kể (35,53%) và thời gian di chuyển giảm sâu xuống mức 11,40%. Nguyên nhân trực tiếp xuất phát từ diện tích sinh cảnh Hòn Dồ quá nhỏ hẹp (chỉ 10,57 ha rừng tự nhiên), khiến phạm vi kiếm ăn bị thu hẹp, buộc các cá thể tăng cường tương tác xã hội để duy trì trật tự và gắn kết bầy đàn.
Tập tính uống nước dưới mặt đất được ghi nhận là phản ứng sinh thái quan trọng giúp loài thích ứng với điều kiện khô hạn gay gắt. Trong mùa khô từ tháng 5 đến tháng 8, nhiệt độ trung bình tháng đạt 29,8°C và lượng mưa giảm mạnh dưới 45mm, lượng nước tích lũy trong thức ăn lá cây không đủ đáp ứng nhu cầu trao đổi chất, buộc loài phải rời bỏ tán cây an toàn để xuống các vũng nước mặt đất bù nước. Các dữ liệu định lượng này có thể được mô hình hóa tối ưu qua biểu đồ tròn biểu diễn cơ cấu quỹ thời gian, biểu đồ cột chồng minh họa biến động thành phần 4 nhóm thức ăn qua từng tháng, cùng bảng ma trận thống kê phân bố 12 đàn theo cấp tuổi và giới tính để phục vụ công tác giám sát sinh thái.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, phục hồi và kết nối hành lang sinh cảnh xanh: Tiến hành trồng bổ sung các loài cây bản địa là thức ăn ưa thích của linh trưởng nhằm kết nối 9 khoảnh rừng tự nhiên phân tán (Hòn Dồ, Hòn Ông, Hòn Dương Bông, Hòn Nhọn), mở rộng diện tích sinh cảnh liên tục từ 10,57 ha lên 86,0 ha; mục tiêu hoàn thành trong giai đoạn 2022 - 2025 do Ủy ban nhân dân huyện Núi Thành và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam chủ trì thực hiện.
Thứ hai, tăng cường tuần tra và triệt phá bẫy bắt động vật hoang dã: Nâng cao tần suất tuần tra của Tổ tuần tra thôn bản (TTTB) từ 10 ngày/tháng lên 18 ngày/tháng, kiểm soát 100% việc sử dụng súng săn tự chế tại các vùng đệm; thực hiện liên tục từ năm 2022 do Ủy ban nhân dân xã Tam Mỹ Tây phối hợp cùng Hạt Kiểm lâm địa bàn căn cứ theo Điều 244 Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2017.
Thứ ba, thiết lập mạng lưới cấp nước nhân tạo mùa khô: Xây dựng 10 hố nước tự nhiên lát đá tương tự mô hình hố nước ĐN2 tại các hốc đá trên đỉnh núi Hòn Dồ và Hòn Ông, duy trì tiếp nước định kỳ từ tháng 4 đến tháng 8 hàng năm; đảm bảo 100% các đàn linh trưởng tiếp cận nguồn nước uống an toàn do Ban quản lý rừng cộng đồng phối hợp thực hiện.
Thứ tư, chuyển đổi sinh kế vùng đệm gắn với du lịch sinh thái có kiểm soát: Tập huấn chuyển đổi mô hình kinh tế nông lâm kết hợp cho 100% hộ dân sở hữu rẫy keo giáp ranh rừng tự nhiên, chi trả dịch vụ môi trường rừng và tổ chức các tour trải nghiệm quan sát linh trưởng có kiểm soát; lộ trình thực hiện từ năm 2023 đến 2026 do Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Quảng Nam cùng các tổ chức bảo tồn quốc tế tài trợ.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm nhà nghiên cứu sinh thái học và chuyên gia linh trưởng học: Luận văn cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác về phản ứng thích nghi hành vi của linh trưởng ăn lá trong sinh cảnh phân mảnh cực hạn; phục vụ xây dựng các mô hình toán học dự báo biến động quần thể Colobinae tại Đông Nam Á.
Nhóm cán bộ quản lý lâm nghiệp và hoạch định chính sách bảo tồn: Cán bộ Chi cục Kiểm lâm và Sở Nông nghiệp có thể sử dụng số liệu trữ lượng 99-104 cá thể và bản đồ phân bố để hoàn thiện hồ sơ thành lập Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Chà vá chân xám Tam Mỹ Tây.
Nhóm các tổ chức phi chính phủ và quỹ tài trợ môi trường: Các chuyên gia của Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) hay Quỹ Bảo tồn Linh trưởng Quốc tế có căn cứ thực địa vững chắc để giải ngân các dự án tài trợ trồng rừng kết nối hành lang và nâng cao năng lực bảo vệ rừng cộng đồng.
Nhóm học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Sinh học, Quản lý tài nguyên rừng: Tài liệu là hình mẫu phương pháp luận về việc ứng dụng công nghệ bẫy ảnh tự động, kỹ thuật quay phim tầm xa lấy mẫu cá thể tiêu điểm và phương pháp kiểm định thống kê SPSS trong nghiên cứu tập tính động vật hoang dã.
Câu hỏi thường gặp
Loài Chà vá chân xám tại Tam Mỹ Tây có điểm gì khác biệt về sinh cảnh so với các khu vực khác?
Thông thường loài sinh sống ở các cánh rừng thường xanh núi cao từ 900m đến 1.300m, nhưng tại Tam Mỹ Tây chúng thích nghi ở độ cao thấp từ 110m đến 600m trong những vạt rừng tự nhiên chỉ rộng 10,57 ha bị bao bọc bởi đồi keo sản xuất.
Cấu trúc đàn của Chà vá chân xám tại khu vực nghiên cứu được tổ chức như thế nào?
Quần thể gồm 12 đàn có quy mô từ 5 đến 31 cá thể, tổ chức theo 2 kiểu cấu trúc: đàn đơn đực (OMU) gồm một con đực trưởng thành sống cùng nhiều con cái và con non, và đàn đa đực đa cái (MM/MFMU) hình thành do sự sáp nhập của các đàn nhỏ.
Tại sao Chà vá chân xám tại Hòn Dồ lại có hành vi xuống đất uống nước?
Hành vi này được kích hoạt vào mùa khô khi nhiệt độ môi trường vượt 35°C và lượng mưa trung bình tháng giảm xuống thấp, khiến lượng nước tích tụ trong 60 loài thực vật thức ăn không đủ đáp ứng nhu cầu giải nhiệt của cơ thể.
Hành vi săn bắt và buôn bán Chà vá chân xám bị xử lý theo khung pháp lý nào?
Loài thuộc Nhóm IB theo Nghị định 06/2019/NĐ-CP và được bảo vệ nghiêm ngặt theo Điều 244 Bộ luật Hình sự năm 2017; mọi hành vi săn bắt, tàng trữ hoặc buôn bán có thể bị phạt tiền đến 15 tỷ đồng hoặc phạt tù lên tới 15 năm.
Giải pháp cấp bách nhất để cứu quần thể Chà vá chân xám Tam Mỹ Tây là gì?
Giải pháp quan trọng nhất là phục hồi và kết nối 86,0 ha rừng tự nhiên nhằm xóa bỏ tình trạng ốc đảo cô lập, mở rộng vùng kiếm ăn và ngăn ngừa triệt để nguy cơ suy thoái do giao phối cận huyết ở các thế hệ con non.
Kết luận
- Xác định chính xác sự hiện diện của 12 đàn Chà vá chân xám với tổng số 99 đến 104 cá thể tại 9 khoảnh rừng tự nhiên phân tán thuộc xã Tam Mỹ Tây, trong đó Hòn Dồ sở hữu mật độ lớn nhất với 31 cá thể.
- Khảo sát toàn diện thảm thực vật Hòn Dồ với 148 loài thực vật bậc cao, mật độ 821 cây/ha, ghi nhận 60 loài cây cung cấp thức ăn cho linh trưởng với lá non và quả chiếm trên 74,1% khẩu phần.
- Định lượng chi tiết quỹ thời gian hoạt động ngày với tỷ lệ hành vi xã hội chiếm ưu thế 35,53%, di chuyển chiếm 11,40% và phát hiện tập tính uống nước mặt đất qua 40 video bẫy ảnh tự động trong mùa khô.
- Nhận diện các mối đe dọa sinh tồn nghiêm trọng bao gồm suy thoái môi trường do phân mảnh đồi keo, rào cản chia cắt giao thông và nguy cơ săn bắn trái phép bằng súng tự chế.
- Đề xuất hệ thống 4 giải pháp khả thi gồm quy hoạch hành lang xanh 86,0 ha, nâng tuần tra lên 18 ngày/tháng, bổ sung 10 hố nước nhân tạo và phát triển sinh kế du lịch cộng đồng giai đoạn 2022 - 2026.
Công trình nghiên cứu thạc sĩ của tác giả Bùi Văn Tuấn là đóng góp khoa học đặc biệt giá trị cho kho tàng dữ liệu sinh thái học linh trưởng Việt Nam, mở ra hướng tiếp cận thực tiễn trong công tác cứu hộ và bảo tồn nguyên vị các loài thú nguy cấp. Các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và tổ chức bảo tồn hãy chung tay ứng dụng ngay các khuyến nghị của luận văn để bảo vệ an toàn cho quần thể Chà vá chân xám Tam Mỹ Tây trước nguy cơ tuyệt chủng.