CHƯƠNG I NHỮNG HIỂU BIẾT CHUNG VỀ TRE - TRÚC Tre-trúc thuộc lớp Thực vật một lá mầm, họ Hoà thảo (Poaceae), họ phụ Tre-trúc (Bambusoideae). Khi chúng tôi dùng từ ghép tre-trúc là muốn chỉ chung tất cả các loài Tre-Trúc, Nứa, Vầu, Giang, v. trong họ phụ này. Tre là tên thuần Việt, Trúc là tên Hán Việt.
Người Trung Quốc gọi chung tất cả các loài Tre có thân mọc cụm, thân mọc phân tán và thân mọc phức hợp là Trúc. Để chỉ loại Trúc cụ thể nào đó, người Trung Quốc chỉ thêm một tính từ ở trước từ ‘T rúc” để gọi như là cức trúc (tre gai), khổ trúc (vầu trắng), bạc trúc (nứa), điền trúc (mai - có thân mọc cụm), lục trúc (có thân mọc cụm), mao trúc (trúc sào - có thân mọc tản), phương trúc (trúc vuông), v. giống như người Châu Âu gọi chung các loại tre là “Bamboo”. Theo cách gọi và hiểu phổ thông của nhiều người Việt Nam hiện nay là từ “tre ” để chỉ chung các loài có thân mọc cụm, vách thân khí sinh dày, còn từ “nứa ” là để chung các cây có thân mọc cụm nhưng vách thân khí sinh mỏng, từ “trúc” phần lớn chỉ những loài có thân khí sinh mọc tản như trúc sào, trúc cần câu, trúc quân tử (tuy vậy vẫn có nhiều trường hợp ngoại lệ như gọi trúc đùi gà, nhưng lại là loài cây mọc cụm, hoặc nứa nói chung là vách mỏng nhưng cũng có những loại nứa vách dày xét theo phân loại).
Vì vậy để cho chính xác vẫn phải kèm theo tên Latinh tên địa phương để tiện cho việc tra cứu. PHÂN BỐ CỦA TRE - TRÚC Trên thế giới họ phụ Tre Trúc có khoảng 1200 loài, 70 chi, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới và một số ít loài phân bố ở vùng ôn đới và hàn đới. Theo Chu Phương Thuần (1998), Tre Trúc thế giới có thể chia làm ba vùng: - Vùng tre trúc Châu Á - Thái bình dương. - Vùng tre trúc Châu Mỹ.
- Vùng tre trúc Châu Phi (bảng 1). Bàng 1: Diện tích và s ố lượng loài tre trúc một sô' quốc gia trên th ế giới Diện tích Số loài (gồm Tên nước hoặc vùng Số chi (ltrỉệuha) cả thứ, dạng) Trung Quốc 7.000 50 500 Ấn Độ 4,000 19 136 Myanma 2,170 90 Thái Lan 0,810 13 60 Bãnglađét 0,600 13 30 Campuchia 0,287 việt Nam 0,130 16 92 Nhật Ban 0,138 13 230 Inđônêxia 0,060 9 30 Malaixia 0,020 10 50 Philippin 0,020 11 55 (xem tiếp trang sau) 10 Hàn Quốc 0,008 10 13 Xrilanca 0,002 7 14 Châu Đại Dương và các 0,200 * 6 10 đảo Thái Bình Dương Châu Mỹ (ở Nam và 1,500 * 17 270 Bắc Mỹ) Mađagatca 1,500* 14 50 Nguồn: Chu Phương Thuần Ghi chú: *: ước tính. Ở Việt Nam, theo kết quả tổng kiểm kê rừng toàn quốc (năm 2001) có 1.000ha và phân bố chủ yếu ở các tỉnh Kon Tum, Lâm Đồng, Thanh Hoá, Nghệ An, Đắc Lắc. Theo Phạm Hoàng Hộ (1999), Việt Nam đã thống kê được 23 chi với 121 loài tre trúc.
Đa phần các loài tre trúc ở Việt Nam là những loài có thân khí sinh mọc cụm, một số ít loài có thân mọc tản chỉ ở một số tỉnh Miền Bắc như trúc sào, trúc cần câu (Cao Bằng, Bắc Kạn V .), vầu (ở Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hoà Bình, Tuyên Quang, Sơn La v.) phần lớn trúc sào, trúc cần câu là loài gây trồng. ĐẶC Đ Ể M SINH TRUỞNG PHÁT TR Ể N c ủ a TRE-TRÚC 1. Những tính chất đặc thù của rừng tre - Cơ quan dinh dưỡng của tre trúc gồm thân, thân ngầm, măng, cành, lá, rễ. Thân khí sinh và thân ngầm hợp thành thể thống nhất.
Thân ngầm sinh ra mãng, mãng mọc thành tre (trúc), tre nuôi thân ngầm hoặc sinh thân ngầm mới, mỗi thân ngầm lại sinh măng, cứ luân hồi như vậy, cho nên cả rừng tre là một thể thống nhất. 11 - Ca quan sinh sản của tre trúc là hoa, quả, hạt, nhưng tre trúc b i nhân giống chủ yếu bằng sinh dưỡng vì tre trúc hàng mấy chục năm thậm chí hàng trăm năm mới ra hoa kết quả một lần. Năng lực sinh trưởng dinh dưỡng và tái sinh vô tính rất mạnh. Măng tre trúc được phân sinh từ gốc, từ thân ngầm mà ra, lợi dụng đặc tính này người ta có thể sản xuất kinh doanh rừng tre trúc liên tục.
Tre trúc hàng năm đều sinh ra măng mọc thành tre, cho nên trong bụi tre, rừng tre luôn là rừng khác tuổi. Trong kinh doanh tre trúc luôn luôn chặt cây già, cây sâu bệnh hoặc cây đến tuổi thành thục công nghệ, nuôi dưởng măng và cây con cho nên hình thành phương thức kinh doanh liên tục và không phải trồng lại. Tre trúc sinh trưởng rất nhanh vì thân, cành, thân ngầm của tre trúc đều chia đốt, mỗi đốt đều có tổ chức phân sinh, đều sinh trưởng nên tre trúc lớn lên rất nhanh. Nếu nói sinh trưởng là quá trình tăng thêm, lớn lên của thực vật thì hầu hết các loài tre trúc chỉ cần trên dưới 3 tháng (khoảng 100 ngày) đã hoàn thành sinh trưởng chiều cao và đường kính.
Thời gian về sau chỉ là hoàn thiện, cây cứng ra, tích luỹ xenlulô v. mà không tãng thêm về đường kính chiều cao nữa. Đường lánh thân tre, số đốt tre (gióng tre) được quyết định từ trong măng, mãng càng to thì số đốt càng nhiều, có nghĩa là mãng càng to thì mọc lên cây tre càng cao to. - Sinh trưởng của tre trúc có tiết tấu rõ rệt, mùa măng thì đồng loạt ra măng, đã ra hoa thì trong bụi bất kể cây già, cây non đều ra hoa.
Các loại tre trúc Tre trúc có hàng nghìn loài nhưng căn cứ vào cách sinh trưởng, người ta có thể chia thành 3 loại lớn: 12 2. Loại có thân m ọc cụm (hợp trục) Ở cách sinh trưởng này các cây tre đứng gần nhau, m ọc tò a g bụi mà không tự lan rộng trong diện tích đất. Điển hình ch» to ậ này là các cây trong chi Bam busa như tre gai, tre lộc ngộc, hóp, tre vàng sọc, hóp sào, lồ ô, dùng phấn; các cây trong cỉũ D endrocalamus như luồng, bương, mai, diễn, các loại nứa, v. Tuy cùng trong cách mọc cụm nhưng các cây trong búi luồng, mai, v.
đứng xa nhau hơn so với tre gai và măng tuy cùng mọc từ gốc cây mẹ ra nhưng uốn vòng ra xa rồi mới mọc lên mặt đất nên búi tre thưa hơn. Đặc biệt có loài nứa ịPseudostachyum poìy- morphum Munro) thì các thân khí sinh lại mọc cách xa nhau đến hàng mét vì các mắt trước khi mọc lên mặt đất đều đi ngầm trong lòng đất hàng mét rồi mới mọc lên thành măng và thành cây tre. Do vậy mà bụi tre thưa, thoáng, khiến ta lầm tưởng là loại đcm trục (Vũ Văn Dũng 2002, Chu Phương Thuần 1998). Loại có thân ngầm m ọc phân tán (còn gọi là mọc tản, đơn trục) Loại này có thân ngầm bò lan trong đất, thân ngầm nhỏ (so vói thân khí sinh) mọc dài bò ngang trong tầng đất theo hình lượn sóng.
Trên thân ngầm có đốt, rễ mọc trên các đốt, mỗi đốt lại có mắt xếp so le hai bên, có mắt nảy lên mọc khỏi mặt đất thành mãng và phát triển thành thân khí sinh, có mắt lại mọc thành thân ngầm mới, tiếp tục bò lan trong đất, dần dần hình thành cả đám rừng tre trúc. Vì các măng mọc ra từ thân ngầm bò lan trong đất cho nên các thân khí sinh (cây tre trúc) không cụm lại và phân bố thưa trên đám rừng. Vì thế gọi là loại tre trúc mọc tản (phân tán). Điển hình cho loại này là các cây trong chi Phyllostachys như trúc sào, trúc cần câu, trúc hoá long và một số loài vầu (Indosasa).
Loại có thân mọc tản phức tạp (phức trục) Phức trục tức là thân khí sinh vừa mọc tản (tức là có thân ngâm bò lan trong đất) vừa mọc cụm. Cây tre có thể mọc ra từ thân ngầm và từ gốc tre như loài mọc cụm. Đó là các cây trong chi Indocalamus, Arundinaria (hình 1). Hình 1: Các loại tre có thân mọc tán, mọc cụm và phức hợp 1: Thân ngầm mọc tản 2: Thân ngầm mọc tán phức hợp 3, 4: Thân ngầm mọc cụm 14 3.
Sinh trưởng của thân ngầm Tre trúc không có mô phân sinh thứ cấp nên đặc điểm sinh trưởng có khác những loài cây thân gỗ khác. Muốn nghiên cứu sinh trưởng của tre trúc cần nghiên cứu sinh trưởng thân ngẩm, sinh trưởng của măng và thân khí sinh. Loại tre có thân mọc cụm, thân ngầm không bò lan rộng trong đất. Mãng mọc lên từ thân ngầm (gốc tre).
Gốc tre cũng chia đốt và các đốt ở gần sít nhau. Ở mỗi đốt có mo biến thành vảy cứng bao bọc, xung quanh đốt mọc ra rễ (rễ mọc tập trung nhất ở phần củ tre); trên mỗi đốt có mắt, gặp điều kiện thuận lợi, các mất đó sẽ ra măng và phát triển thành cây tre mới. Đầu tiên các mắt đó mứng to, đâm ngang ra trong đất. Tuỳ theo loại tre mà mức độ ăn ngang ra rộng hẹp khác nhau: như tre gai thì các măng mới mọc sát ngay gốc cây mẹ; ở bương, mai, luồng v.
thì các mắt đó ăn ngang xa hơn rồi mới uốn cong lên thành măng. Do cách đẻ mãng như vậy nên có một số loài tre ngày càng ãn trồi lên mặt đất (tre gai, lộc ngộc). Do đó ta thấy tre gai trồng ở quanh làng thường phải đắp gốc hàng năm thì búi tre mới bền. v ề mặt lợi dụng đất, loại tre này không bằng loại tre có thân mọc phân tán.
Mặt khác búi tre ngày càng dày sít, các gốc rất sát nhau. Trường hợp búi tre đã lâu ngày thì cần phải đánh bỏ những gốc già mọc quá dày, tạo điều kiện cho các mắt ra măng và sinh trưởng thuận lợi. Loại tre có thân mọc phân tán và loại tre có thân mọc tản phức tạp đều có thân ngầm ăn lan rộng trong đất. Thân ngầm chia đốt, mỗi đốt có mo biến thành vảy bao bọc, đầu thân ngầm nhọn, cứng và ăn sâu trong đất.
Tuỳ theo loài khác nhau mà thân ngầm ở sâu nông khác nhau. Thân ngầm của vầu thường ở độ sâu 50- 15 tiO ta. cảa trúc cần câu khoảng lOcm, của trúc sào khoảng 30- SOcm, sặỉ khoảng 5-6cm. Hằng năm, thân ngầm mọc bò trong đất theo hình lượn sóng, c 'ác mắt ở đốt thân ngầm gặp điều kiện thuận lợi thì đâm măng mọc thành cây tre mới.
Bản thân cây tre mới lại có thể sinh thân ngầm cho nên dần dần thân ngầm đan dày trong đất. Thông thường sau khi thân khí sinh định hình thì thân ngầm mới được phát sinh phát triển.