Đồ án chuyên ngành: Nghiên cứu dược lý cây khổ qua và phân lập Saponin

Đồ án chuyên ngành Dược về cây khổ qua, phân tích alkaloid, saponin, tác dụng dược lý và các bài thuốc hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường.

Trường đại học

Đại học Nguyễn Tất Thành

Chuyên ngành

Dược

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đồ án chuyên ngành

2019

50
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Đặc điểm Thực vật học của Cây Khổ Qua

Cây khổ qua (Momordica charantia L.) là một loại cây leo thuộc họ Bí ngô, được trồng rộng rãi ở các quốc gia nhiệt đới và cận nhiệt đới. Cây có nguồn gốc từ châu Á và đã được sử dụng trong y học cổ truyền hàng ngàn năm. Khổ qua có tính chất lạnh, vị đắng, được coi là một trong những dược liệu quý giá trong hệ thống y học truyền thống. Cây phát triển tốt trong điều kiện khí hậu ấm, có nhu cầu ánh sáng cao và đất tơi xốp. Với giá trị dinh dưỡng và dược lý cao, khổ qua đã trở thành đối tượng nghiên cứu khoa học lâu dài của các nhà dược học và nhà khoa học trên thế giới.

1.1. Phân loại và Đặc điểm hình thái

Khổ qua là cây leo một năm hoặc nhiều năm, có thân mảnh, chia nhánh nhiều. Lá có hình lòng bàn tay, mép răng cưa, mặt dưới có lông mềm. Hoa nhỏ, màu vàng, thường nở vào ban đêm. Quả có hình dài, mặt gồ ghề với những mầm nhọn đặc trưng. Quả non xanh, khi chín chuyển sang màu vàng cam, chứa hạt màu đỏ. Mỗi phần của cây đều có giá trị sử dụng.

1.2. Phân bố và Điều kiện sinh sống

Cây khổ qua phân bố rộng rãi ở các vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới của châu Á, châu Phi và châu Mỹ. Ở Việt Nam, khổ qua được trồng phổ biến ở các vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Mê Kông. Cây ưa ánh sáng, nhu cầu nhiệt độ từ 20-30°C, không chịu được sương muối và đất ngập nước. Khổ qua sinh trưởng tốt nhất trên đất tơi xốp, giàu chất hữu cơ.

II. Thành phần Hóa học và Saponin trong Cây Khổ Qua

Cây khổ qua chứa nhiều hợp chất hóa học phức tạp có tác dụng sinh học mạnh mẽ. Các nghiên cứu khoa học đã xác định rằng các thành phần chính bao gồm alkaloid, flavonoid, glycoside, sterol, polysaccharide và các axit béo. Trong số đó, saponin là một nhóm hợp chất quan trọng được tìm thấy với hàm lượng đáng kể, đặc biệt ở lá và quả. Saponin là những hợp chất surfactant tự nhiên có khả năng hòa tan trong nước, tạo bọt khi lắc lư. Các saponin trong khổ qua được phân lập và xác định bằng các phương pháp sắc ký tiên tiến. Những hợp chất này đóng vai trò quan trọng trong các tác dụng dược lý của cây, bao gồm hoạt động chống viêm, kháng khuẩn và điều hòa đường huyết.

2.1. Saponin Hợp chất chính yếu

Saponin là các glycoside steroid hoặc triterpene có cấu trúc phức tạp, tìm thấy chủ yếu trong lá, thân và quả khổ qua. Những hợp chất này có khả năng chống oxy hóa mạnh, bảo vệ tế bào khỏi tổn thương do gốc tự do. Saponin trong khổ qua được chứng minh có tác dụng giảm cholesterol và hỗ trợ sức khỏe tim mạch. Phương pháp phân lập saponin sử dụng kỹ thuật trích xuất rồi sắc ký cột để thu được các saponin tinh khiết phục vụ nghiên cứu về cơ chế hoạt động.

2.2. Các hợp chất hóa học khác

Ngoài saponin, khổ qua còn chứa charantin - một hợp chất steroid có khả năng hạ đường huyết đáng kể. Polypeptide-p là một peptide có hoạt tính insulin, giúp điều chỉnh mức glucose máu. Momordicin là một glycoside cực độc, tuy nhiên khi được xử lý nhiệt sẽ bị phân hủy. Các flavonoid như quercetin, luteolin có tác dụng chống viêm và kháng oxy hóa. Các axit béo polyinsaturated có lợi cho sức khỏe tim mạch.

III. Tác dụng Dược lý của Cây Khổ Qua

Cây khổ qua được coi là "siêu thực phẩm" trong y học cổ truyền với nhiều tác dụng dược lý được khoa học công nhận. Tác dụng chính của khổ qua là hạ đường huyết, giúp điều chỉnh mức glucose máu ở bệnh nhân tiểu đường type 2. Các nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh hiệu quả của khổ qua trong việc cải thiện nhạy cảm insulin. Ngoài ra, khổ qua còn có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, rất hiệu quả trong việc chữa các bệnh nóng như mụn nhân, eczema, viêm da. Tác dụng kháng khuẩn và chống virus của khổ qua được ứng dụng trong điều trị các bệnh nhiễm trùng. Khổ qua cũng giúp mát gan, sáng mắt, hỗ trợ giảm huyết áp, chữa tiêu chảyđiều trị giun sán.

3.1. Tác dụng Hạ Đường huyết

Tác dụng hạ đường huyết của khổ qua được xem là tác dụng quan trọng nhất. Các hợp chất như charantin, polypeptide-p hoạt động tương tự như insulin, kích thích tuyến tụy tiết insulin và tăng hấp thu glucose ở các tế bào. Bệnh nhân tiểu đường type 2 sử dụng khổ qua đều thấy giảm mức đường huyết sau 2-3 tuần. Các bài nghiên cứu lâm sàng chứng minh khổ qua giúp cải thiện nhạy cảm insulin mà không gây tác dụng phụ như các loại thuốc hóa học.

3.2. Tác dụng Thanh nhiệt Giải độc và Chống viêm

Khổ qua có tính lạnh, vị đắng, đặc biệt hiệu quả trong thanh nhiệt cơ thểgiải độc gan. Tác dụng chống viêm của khổ qua giúp giảm mụn nhân, eczema, viêm da do nóng độc. Hoạt tính kháng khuẩn của các saponin và flavonoid hỗ trợ chữa nhiễm trùng. Khổ qua cũng được dùng để mát gan, sáng mắt, chữa bệnh can hỏa (gan nóng) gây mắt đỏ sưng đau. Tác dụng giảm huyết áp rõ rệt, giúp bệnh nhân tăng huyết áp ổn định chỉ số.

IV. Ứng dụng Lâm sàng và Bài thuốc Dân gian

Trong y học cổ truyền Việt Nam, khổ qua đã được sử dụng để điều trị nhiều bệnh khác nhau thông qua các bài thuốc dân gian hiệu quả. Các phương pháp sử dụng bao gồm nấu canh, sắc, chiết dạo, ngoài da hoặc ăn sống. Để chữa tiểu đường, người ta thường dùng 3-5 quả khổ qua non để nước uống hàng ngày. Chữa mệt mỏi, hâm hấp sốt bằng cách nấu canh khổ qua với thịt nạc. Chữa thấp khớp sử dụng rễ khổ qua sắc với thảo dược khác. Các bài thuốc chữa chốc đầu trẻ em, thanh nhiệt sáng mắt, chữa rôm sảy đều có kết quả tốt. Tuy nhiên, cần lưu ý phụ nữ có thai không nên sử dụng khổ qua vì có tác dụng tránh thai.

4.1. Các Bài thuốc Dân gian Phổ biến

Chữa tiểu đường type 2: Nấu canh 3-5 quả khổ qua non với thịt nạc, ăn 3-4 lần/tuần. Chữa chốc đầu trẻ: Rửa sạch, xay nát quả khổ qua để nước uống hoặc dập thành bột. Chữa mệt mỏi, háo khát: Nấu canh khổ qua với cà rốt, khoai tây. Chữa thấp khớp: Sắc rễ khổ qua với độc hoạt, ích mẫu. Mát gan giảm huyết áp: Nấu nước 1-2 quả khổ qua với hạt sen, long nhãn khô. Các bài thuốc này dễ chế biến, an toàn, không gây tác dụng phụ.

4.2. Lưu ý và Chỉ định Sử dụng

Khổ qua an toàn để dùng dài hạn nhưng cần tiêu chảy, đau bụng thì giảm liều. Phụ nữ mang thai tuyệt đối không dùng vì có hoạt tính tránh thai mạnh. Những người dạ dày yếu, tiêu hóa kém nên nấu chín thay vì ăn sống. Bệnh nhân huyết áp thấp cần hạn chế sử dụng vì khổ qua giảm huyết áp. Nên chọn khổ qua non, xanh tươi để tác dụng tốt nhất. Liều thường 20-50g/lần, sắc hay nấu canh.

21/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ THỰC VẬT HỌC 1.1 Vị trí trong bảng phân loại thực vật Giới thực vật (Plantae) Ngành Mộc lan (Magnoliophyta) Lớp (Magnoliopsida) Bộ (Cucurbitales) Họ Bầu Bí (Cucurbitaceae) Chi (Momordica) Loài (Momordica charantia L. charantia L/ Momordica charantia L. Thuộc họ: Bầu bí (Cucurbitaceae) Tên nước ngoài: Bitter melon, bitter ground (Anh), bitter apple, wid cucumber, bitter cucumber, ampalaya ( Philipines), balsam pear ( Mỹ), karela (Ấn Độ)… [13] Tên Việt Nam: khổ qua, mướp đắng, lương qua, cẩm lệ chi….

[12,13] Mướp đắng tồn tại ở hai dạng quần thể: mọc hoang và được trồng trọt. Loại trồng trọt rất phong phú về giống nhưng đều được sắp xếp chung vào chi mướp đắng Momordica charandica L. Nếu căn cứ theo hình dạng bên ngoài thì người ta chia mướp đắng thành 2 chủng loại: [4,11] Momordica charantia L., trái to ( đường kính > 5 cm), màu xanh nhạt, gai tù, ít đắng., trái nhỏ ( đường kính <5 cm), màu xanh đậm, gai nhọn, vị rất đắng. Hình TỔNG QUAN VỀ THỰC VẬT Hình TỔNG QUAN VỀ THỰC HỌC.

abbreviata Ser VẬT HỌC. charantia L 7 Mướp đắng thuộc loại dây leo bằng tua cuốn, thân có cạnh, ở ngọn có mọc lông tơ, có đời sống khoảng 1 năm. Hình TỔNG QUAN VỀ THỰC VẬT Hình TỔNG QUAN VỀ THỰC VẬT HỌC.3: Thân leo Mướp Đắng HỌC.4: Dây và Hoa Mướp Đắng Hoa đực và hoa cái mọc riêng ở nách lá, có cuống dài. Hoa đực có đài và ống rất ngắn, tràng gồm năm cánh móng hình bầu dục, nhụy 5 rời nhau.

Hoa cái có đài và tràng hoa giống hoa đực. Tràng hoa màu vàng nhạt, đường kính khoảng 2cm. [4,10,11,13] Quả hình thoi, dài 8-15cm, gốc và đầu thuôn nhọn, mặt vỏ có nhiều u lồi to nhỏ không đều. Qủa khi chưa chín có màu xanh hoặc màu vàng xanh nhạt, khi chín có màu vàng hồng.

Vì thế ở Trung Quốc, mướp đắng còn có tên là Hồng Dương, Hồng Cô Nương. 1 Qủa xanh và chín Khi chín, quả nứt ra dần từ đầu, tách ra làm ba phần để lộ chùm áo hạt màu đỏ bên trong. [13,14] Hạt dẹp, dài 13-15mm, rộng 7-8mm, trông gần giống hạt bí ngô. Quanh hạt có màng đỏ bao quanh( giống như màng hạt gấc).3 PHÂN BỐ SINH THÁI Từ thời xưa, cây mướp đắng được trồng ở vùng Đông Âu và Nam Trung Quốc, được sử dụng như là loại rau ăn quả giàu chất sắt và Vitamin C.

Sau đó, cây được du nhập sang Châu Phi và Châu Mỹ Latinh. Quần thể mướp đắng đã trở nên rất phong phú với các giống cây đa dạng được tạo ra trong quá trình chọn giống và tái tạo. Ở Việt Nam, mướp đắng được trồng khắp các tỉnh từ Bắc vào Nam, chỉ một số vùng núi cao và lạnh như Sa Pa (Lào Cai), Phó Bảng ( Hà Giang)… thì mới không thấy có mướp đắng. Trên thế giới, cây mướp đắng có mặt ở hầu hết các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới như Trung Quốc ( Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Giang Tô, Triết Giang); một số nước Đông Nam Á như Ấn Độ, Malaysia, Philipin; Châu Phi và vùng Caribbean.

Cây mướp đắng có biên độ sinh thái tương đối rộng, nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng từ 200C – 350C, lượng mưa hằng năm từ 1500-2500mm. Chịu được nhiều điều kiện đất khác nhau nhưng phát triển tốt nhất trong điều kiện thoáng nước và đất giàu chất hữu cơ. Mướp đắng có thể trồng quanh năm. Cây sinh trưởng nhanh trong mùa mưa ẩm, ra hoa sau 7- 8 tần gieo trồng.

Sau khi trái già, cây sẽ tàn lụi và kết thúc vòng đời sau 4-5 tháng tồn tại. TÁC DỤNG DƯỢC LÝ Y học cổ truyền và dân gian Việt Nam đã có nhiều kinh nghiệm chưa bệnh từ mướp đắng nhưng chỉ ở dạng thô ban đầu hoặc ở dạng nước ép, nước sắc. Ngày nay, trên thị trường đã xuất hiện nhiều sản phẩm từ quả mướp đắng nhưng chủ yếu ở dạng thực phẩm chức năng như trà hòa tan, trà túi lọc… Các tác giả như Nguyễn Thị Như, Nguyễn Thị Bay đã nghiên cứu tác dụng hạ đường huyết của một bài thuốc nam trên thực nghiệm lâm sàng, đó là sản phẩm trà túi lọc mà thành phần quả mướp đắng chiếm 60%. [11] Các tác giả Mai Phương Mai, Võ Phùng Nguyên cũng đã thăm dò tác dụng hạ đường huyết của một số bài thuốc dân gian ở mô hình đái tháo đường bằng Streptozotocin trên chuột nhắt mà thành phần của bài thuốc cũng có chứa quả mướp đắng.

[11] 12 Các tác giả Mai Phương Mai, Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Ngọc Hạnh đã chứng minh tác dụng hạ đường huyết của các dịch chiết từ quả mướp đắng thu hái tại Thái Nguyên với các dung môi khác nhau. [29] Theo Y học hiện đại, mướp đắng có tác dụng: [11] - Diệt vi khuẩn và vi rút, chống lại tế bào gây ung thư, hỗ trợ đắc lực cho bệnh nhân ung thư đang chữa trị bằng tia xạ - Chống các gốc tự do- là nguyên nhân gây lão hóa và phát sinh các bệnh tim mạch, tăng huyết áp, rối loạn lipit máu, tổn thương thần kinh, viêm đường tiết niệu, đái tháo đường. - Tăng oxy hóa glucozơ, ngăn chặn sự hấp thu glucozơ vào tế bào. Ức chế hoạt tính các men tổng hợp Glucozơ.

- Có tác dụng sinh học giống Insulin, giúp cơ thể tăng tiết Insulin. - Có tác dụng tốt đối với người mắc bệnh đái tháo đường dạng type 2. Hỗ trợ tăng tác dụng, giảm liều lượng, giảm tác dụng phụ của các loại Sulfamid trị đái tháo đường dạng type 2. - Dịch chiết từ quả mướp đắng có khả năng ức chế khối u, hổ trợ men gan.

- Cao methanol 50% quả mướp đắng cho tác dụng hạ đường huyết 25% (liều dùng 30 mg/kg), cao butanol cho kết quả là 34% với liều dùng như trên. - Các tác giả này cho rằng các hợp chất phân cực, tan nhiều trong butanol có khả năng làm giảm đường huyết. Cơ chế hoạt động tương tự insulin hoặc thông qua sự tiết insulin từ tuyến tuỵ. - Cao nước quả mướp đắng, khi cho chuột cống trắng đã được gây tăng đường máu với aloxan (120mg aloxan/kg tiêm dưới da) uống hàng ngày trong hai tháng làm chậm sự xuất hiện bệnh võng mạc.

- Dịch ép quả mướp đắng làm giảm đáng kể tỷ lệ ung thư da ở chuột nhắt trắng gây bởi dimethylbenzo [a] anthracen được làm tăng thêm bởi dầu bã đậu. Cao từ vỏ, thịt quả, hạt và toàn quả mướp đắng có hoạt tính chống ung thư rõ rệt đối với sự sinh u nhú da chuột nhắt khi dùng tại chỗ. Ở Trung Quốc, người ta đã tách được hai hợp chất hạn chế sinh sản là α- protein và β-protein từ hạt mướp đắng. Các thí nghiệm nuôi cấy, ghép phôi invitro cho thấy 2 hoạt chất này có tác dụng ức chế quá trình làm dày đặc nguyên bào phôi trước khi làm tổ và hình thành phôi ở thai kỳ đầu, từ đó phôi ngừng phát triển, thoái hóa phân hủy dẫn đến sẩy thai.

KINH NGHIỆM SỬ DỤNG Hầu hết các bộ phận của cây như rễ, thân, lá, hoa, trái, hạt đều có tác dụng làm thuốc chữa bệnh.1 Rễ Rễ tươi sắc nước uống, mỗi ngày một thang, từ 1000ml nước với 60g rễ mướpđắng tươi, sắc còn 400ml, chia làm 2-3 lần uống, có thể áp dụng cho mọi dạng bệnh. Rễ mướp đắng dùng trị lỵ, nhất là amip. Tại Ấn Độ, dịch rễ (cũng như lá, trái) mướp đắng được dùng trị bệnh tiểu đường, do có tác dụng làm giảm đường huyết. Rễ mướp đắng còn có tác dụng trị bệnh gan.2 Dây Dây mướp đắng được dùng làm thuốc trị viêm xoang, chảy máu mũi, có mồ hôi hoặc bệnh gan làm vàng da.3 Lá Lá có vị đắng, tính mát.

Ăn lá non trị bệnh nóng bức trong mình. Giã lá vắt nước, thêm chút muối, uống trị bệnh nóng mê man hoặc trị mụn nhọt, rôm sẩy. Ngoài ra, lá còn có thể trị được rắn cắn, làm thuốc nhuận trường, hạ sốt. Lá mướp đắng khô 12g, tán bột hoà với nước hay rượu uống kết hợp lấy lá tươi giã nát đắp ngoài, chữa nhọt độc, sưng tấy, các vết thương nhiễm độc.

Lá tươi 4 -8g, nhai nuốt nước, bã đắp chữa rắn cắn.4 Quả Quả còn xanh có vị đắng, khi chín thì ít đắng hơn. Quả mướp đắng có tính hàn (mát), không độc. Quả xanh có tính giải nhiệt, làm tiêu đờm, nhuận tràng, bổ thận, nuôi can huyết, bớt mệt mỏi, giảm stress, xoa dịu thần kinh, giải độc, lợi tiểu, làm bớt đau khớp. Khi chín mướp đắng có tính bổ thận, kiện tỳ, dưỡng huyết, diệt giun (sán, lãi), đồng thời có tác dụng làm sáng mắt, bổ tim, bổ máu, mát gan, rất thích hợp với những người đau gan, đau lá lách.

[2] Ở Trung Quốc, quả mướp đắng còn dùng để trị đột quỵ tim, bệnh sốt, khô miệng, viêm họng. Ở Ấn Độ, dịch quả mướp đắng được dùng trị rắn cắn. Người ta còn dùng bột quả mướp đắng để hàn các vết thương, trị vết loét ác tính. Ở Thái Lan, dịch quả được dùng trị bệnh về gan, lá lách.

[9,11] Với tính diệt khuẩn và chống oxi hóa, mướp đắng làm da mịn màng, trị mụn trứng cá hay bệnh vẩy nến, và ngay cả với vết thương do côn trùng cắn, nhiễm trùng da. Mặt khác, quả mướp đắng còn cung cấp nguồn năng lượng dồi dào và tăng khả năng chịu đựng cho cơ thể. 14 Ngoài các công dụng trên, quả mướp đắng còn được dùng để trị các bệnh như: ho, sốt, kiết lỵ, dạ dày, đau tức, đái dắt, phù thủng do gan, mắt đỏ đau nhức, giải nhiệt, hồi hộp, buồn phiền, tắm cho trẻ em trị rôm sảy.5 Hoa Hoa mướp đắng được dùng để chữa đau dạ dày, lỵ cấp tính, đau mắt, hoa còn là thành phần chính trong các bài thuốc trị hen.6 Hạt Hạt có chất béo, vị đắng, hơi ngộ, tính ấm, thanh nhiệt, giải độc, giải cảm, trị ho, lợi tiểu. Hạt còn chữa rắn cắn, chữa ngọt độc sưng tấy, vết thương nhiễm trùng, hạ sốt, đau họng và chống thụ thai, làm hạ huyết áp, kháng virut HIV.

BÀI THUỐC DÂN GIAN 4.1 Chữa tiểu đường tuýp 2 Quả mướp đắng còn xanh, thái mỏng, phơi khô, tán bột. Mỗi ngày uống 12-20g, chia làm 2- 3 lần, uống sau bữa ăn với nước.2 Chữa chốc đầu trẻ em Dùng lá đào nấu nước gội, rồi giã nát quả và hạt mướp đắng bôi lên.3 Chữa mệt mỏi, háo khát, hâm hấp sốt Lá mướp đắng non, lá khởi tử, hay lá hoa thiên lý nấu canh.4 Chữa thấp khớp Dây lá mướp đắng, dây đau xương (sao rượu), cây xấu hổ, rễ nhàu, cỏ xước, vòi voi, cối xay, mỗi vị 8g, rễ ngũ trão 5g, quế chi 4g, gừng sống 3g, dây thần thông 2g. Sắc uống ngày một thang.5 Mát gan giảm huyết áp Quả mướp đắng 150g, rau cần 150g, tương mè, tỏi nhuyễn mỗi thứ với lượng vừa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ