Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Khi cây cao su (Hevea brasiliensis) được xem là lọai cây công nghiệp quan trọng thì diện tích cây cao su đã dần vượt ra xa vùng nguyên quán phân bố từ vĩ tuyến 150 nam đến vĩ tuyến 60 bắc (Brazin: Acre, Mato Grosso, Rondonio và Parana; một phần của Polivia và Peru) và đã được trồng trên nhiều vùng có điều kiện khí hậu khác xa so với vùng nguyên quán như ở Assam (Ấn Độ) 200 B, Vân nam (Trung Quốc) 22 – 23,50B. Hiện nay có 24 quốc gia trồng cao su tại 3 châu lục: Á, Phi và Mỹ La Tinh, tổng diện tích toàn thế giới khoảng 9,4 triệu ha, trong đó Châu Á chiếm 93%, Châu Phi 5%, Mỹ La Tinh quê hương của cây cao su chưa đến 2% diện tích cao su thế giới. Việc mở rộng diện tích cao su vùng Nam Mỹ gặp khó khăn do bị hạn chế bởi bệnh cháy lá Nam Mỹ (SALB).
Indonesia có diện tích cao su lớn nhất thế giới, tiếp theo là Thái Lan, Malaisia, Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam. Hầu hết diện tích cao su của các nước đều nằm trong vùng truyền thống. Hiện nay, nhiều nước đang mở rộng diện tích cao su ra ngoài vùng truyền thống như một công cụ để bảo vệ môi trường và nâng cao thu nhập của người dân. Một số nước đứng đầu trong nghiên cứu và phát triển cao su là: Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Ấn Độ, Việt Nam, Trung Quốc,.
Trong các năm qua nhu cầu tiêu thụ cao su thiên nhiên trên thế giới tiếp tục tăng trưởng mạnh, đạt 8 triệu tấn năm 2005. Nhu cầu này được dự báo sẽ còn tiếp tục tiếp tục tăng mạnh hơn nữa trong thời gian dài, có thể đạt đến 10 triệu tấn năm 2010 và đến 15 triệu tấn năm 2035. Nhằm đáp ứng nhu cầu trên, các nước trồng cao su đều tập trung mở rộng diện tích, đặc biệt ở các vùng có điều kiện sinh thái ít thuận lợi (vĩ độ cao, độ cao lớn, đất kém…) và nâng cao năng suất trên đơn vị diện tích đất thông qua con đường cải tiến giống và phát triển các tiến bộ kỹ thuật 4 nông học đi kè m. Phương hướng cải tiến giống được tất cả các Viện cao su trên thế giới tập trung đẩy mạnh nghiên cứu.
Ngày nay, bên cạnh mục tiêu tạo tuyển giống năng suất mủ cao, chống chịu bệnh hại và thích nghi môi trường, năng suất gỗ cũng trở thành tiêu chí quan trọng trong chọn tạo giống cao su vì nhu cầu gỗ cao su để thay cho gỗ rừng ngày càng cao. Để đáp ứng mục tiêu trên, Malaysia đã đặt mục tiêu tạo tuyển giống cao su đạt năng suất 3,5 tấn mủ/ha/năm bình quân chu kỳ và năng suất gỗ toàn cây đạt 1,5 m 3/cây vào cuối kỳ kinh doanh. Hiệp hội Nghiên cứu và Phát triển Cao su Quốc tế (IRRDB) cũng đề xướng chương trình hợp tác giữa các Viện Cao su để phát triển giống đạt năng suất trên 3 tấn mủ/ha. Indonesia là nước trồng cao su lớn nhất thế giới hiện nay, năm 1940 Indonesia đã trồng được 1.000 ha cao su trong đó 640.000ha là đại điền và 790.000ha là tiểu điền.
Năm 1995 sản lượng cao su thiên nhiên đạt 1. Cao su tiểu điền Indonesia có đặc điểm cây bắt đầu cạo mủ vào năm thứ 8, sản lượng cao nhất vào năm tuổi thứ 16 với năng suất tối đa là 1,35 tấn/ha. Cao su đại điền bắt đầu cạo vào năm tuổi thứ 7, đạt sản lượng cao nhất vào năm tuổi thứ 12. Indonesia thành lập các tổ chức hỗ trợ cho việc phát triển cao su tiểu điền như; NES (Nuclear Estate Sch emes - Kế hoạch đại điền hạt nhân) nhằm hỗ trợ sự phát triển diện tích canh tác mới của cây cao su cho thành phần nông dân nghèo không có đất, tổ chức này ký hợp đồng với nhà nước và sử dụng đại điền làm hạt nhân để hỗ trợ sự phát triển tiểu điền xung quanh như xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ trồng và chăm sóc vườn cây cho tới khi khai thác.
Thái Lan di nhập cao su từ Java, Indonesia vào trồng tại tỉnh Trang, vùng Tây - Nam vào năm 1899, từ đó cây cao su lan sang phía Nam và phía Đông nước này, tính từ năm 1966 đến năm 1993 diện tích cao su Thái Lan đã tăng thêm 880.000ha với các vườn cây trồng các giống cao sản như RRIM600 năng suất đạt bình quân 1. Hàng năm Thái Lan tái canh 5 được 40.000ha, với cơ cấu diện tích là 28% cao su kiến thiết cơ bản, 30% là cây cạo mủ dưới 6 năm, 16% là cây cạo mủ từ 6-12 năm còn lại là cây trên 20 tuổi, cây đạt năng suất cao nhất vào lúc cây được 13 tuổi, cao su tiểu điền của Thái Lan chiếm 95% tổng diện tích cao su cả nước. Ngày nay, Thái Lan đã phát triển cao su ra phía Bắc và Đông Bắc nước này lên đến vĩ tuyến 19o là những vùng đất cao ít thích hợp cho cây cao su nhưng vẫn đạt năng suất 1. Thái Lan cũng có các tổ chức hỗ trợ cho việc phát triển cao su tiểu điền như ORRAF (Office of the Rubber Aid Fund - Văn phòng vốn tái canh cao su), CRAM (Central Rubber Auction Market - Chợ đấu giá trung tâm).
(Nuchanat Na-Ranong. Trước năm 1990 Malaysia là nước trồng và sản xuất cao su thiên nhiên hàng đầu thế giới, sản lượng cao su đạt cao nhất là 1.000 tấn vào năm 1988, tiểu điền cao su chiếm 80% diện tích và 70% sản lượng, dự kiến đến năm 2010 diện tích trồng cao su của nước này sẽ tăng lên tới 1,5 triệu ha. Malaysia là một điển hình trong nghiên cứu chọn lọc và khuyến cáo giống cao su thích nghi theo điều kiện sinh thái của môi trường để tối ưu hóa tiềm năng của giống. Việc phân vùng chủ yếu dựa trên mức độ gây hại của gió và các loại bệnh gây hại cao su như bệnh nấm hồng, bệnh rụng lá phấn trắng, bệnh héo đen đầu lá và bệnh rụng lá Corynes pora.
Ấn Độ cũng đã nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật canh tác thích hợp để phát triển cây cao ở ngoài vùng truyền thống (từ vĩ độ 15 – 200 B), kết qủa đạt được rất khả quan và năng suất cây cao su có thể đạt được trên 1,5 tấn/ha/năm. Trung Quốc là nước trồng cao su rất đặc thù so với các nước khác. Diện tích cao su của Trung Quốc nằm hoàn toàn ngoài vùng truyền thống từ vĩ tuyến 18oB đến 24oB và tập trung ở các tỉnh: Vân Nam, Hải Nam, Quảng Đông, Quảng Tây. Trung Quốc đã thành công trong việc phát triển cây cao su có hiệu qủa trong điều kiện môi trường không thuận lợi (tới hạn) đối với cây cao su.
Các yếu tố bất lợi cơ bản đối với cây cao su ở 6 Trung Quốc là khí hậu mùa đông lạnh, cao trình cao, đối với một số vùng như đảo Hải Nam thì thường xuyên đối diện với sự gây hại của gió bão, để hạn chế tác hại của các yếu tố này Trung Quốc đã nghiên cứu và áp dụng những biện pháp kỹ thuật canh tác và tạo hình thích hợp đối với từng vùng trồng cao su cụ thể. Kết qủa là năng suất của một số vùng như XishuaBana thuộc tỉnh Vân Nam năng suất bình quân đạt trên 2 tấn/ha/năm với các giống PR 107, RRIM 600, GT1 và 2 giống mới có khả năng chống chịu lạnh và khô hạn tốt là Vân Nghiên 77-2, Vân Nghiên 77-4. Gây trồng, phát triển và nghiên cứu về Cao su ở Việt nam Cây cao su được người Pháp trồng thành công ở Việt Nam từ năm 1897 đến năm 1906, với công lao đóng góp của Yersin và Vernet, Bellen ở miền Nam Việt Nam. Thời bắt đầu phát triển mạnh bắt đầu tư năm 1907 từ sự ra đời của Công ty nông nghiệp Suzannah mở đường cho nhành công nghiệp cao su Việt Nam.
Những diện tích cao su đầu tiên của Công ty nông nghiệp Suzannah trồng bằng hạt được chọn lọc, có thể giống là từ các cây cao su của đồn điền phú nhuận của ông Belland, mật độ trồng 400 cây/ha, khoảng cách 5x5m; đến đầu năm 1911 diện tích cao su của Công ty đạt 450 ha. Năm 1908 hai anh em ông Jousset de Deleurance và Bellesme trồng 27 ha cây cao su ở Tây Ninh (Công ty cổ phần cao su Tây Ninh bây giờ); đến năm 1909 trồng tiếp 50 ha và năm 1910 trồng 233 ha. Năm 1910, Công ty cao su Đồng Nai và Công ty nông nghiệp Thành Tuy Hạ được thành lập. Năm 1911, Việt Nam có 28 đồn điền cao su lớn (500 ha trở lên); trong số này có 18 đồn điền cao su nằm trên đất đỏ thuộc các tỉnh Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Bà Rịa, chiếm 71% tổng diện tích.
Điều này cho thấy các nhà tư bản Pháp lựa chọn đất đỏ để xây dựng đồn điền cao su lớn, vùng đất xám thuộc các tỉnh Gia Định, Tây Ninh, Nam Thủ Dầu Một, Bắc Biên Hoà… Sau năm 2010 có các công ty mới 7 thành lập như: Công ty đồn điền An Lộc, Công ty cao su Xuân Lộc, Công ty cao su PaRang. Ngày 30/10/2006, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 249/2006/QĐ-TTg về việc thành lập Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam. Tập đoàn Công nghiệp Cao su nói riêng và ngành Cao su Việt Nam nói chung phải có những đóng góp thiết thực, quan trọng vào quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Việt Nam. Cao su phát triển đến đâu là nhà máy chế biến Cao su, đường giao thông, điện, đô thị phát triển đến đó và từ đó cơ cấu kinh tế ở các vùng nông thôn, miền núi được chuyển theo hướng công nghiệp hóa.
Hai chữ “công nghiệp” trong tên của Tập đoàn, đó chính là mục tiêu mà Tập đoàn phải đạt tới, “công nghiệp” từ trong “nông nghiệp” mà đi lên, mà công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn. Thực hiện chương trình phát triển 150.000 ha cao su tại Lào và Campuchia, 50.000 ha cao su tại Tây Nguyên, 100.000 ha cao su tại Tây Bắc do Chính phủ giao trách nhiệm. Tại vùng Tây Bắc Cây cao su đã được trồng vào đầu thập niên 60 của thế kỷ XX tại Nông trường Phú Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ, với điện tích hàng trăm ha, cây sinh trưởng phát triển tốt, tuy nhiên đến nay không có số liệu lưu trữ về năng suất, sản lượng; đến đầu thập niên 80 do bị sương muối nặng nên diện tích cao su tại đây đã bị chết.