Chương 1: Cơ sở lý luận về cấu trúc vốn và chi phí vốn trong Công ty Cổ phần. Chương 2: Thực trạng về cấu trúc vốn và chi phí vốn của Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang giai đoạn 2015-2019. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện cấu trúc vốn và chi phí vốn của Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang. Luan van CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN VÀ CHI PHÍ VỐN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 1.
Lý luận chung về cấu trúc vốn và chi phí vốn 1. Cấu trúc vốn 1. Khái niệm Đối với một doanh nghiệp để có thể độc lập và tự chủ về tài chính là một vấn đề khá khó đặc biệt là đối với các doanh nghiệp còn non trẻ hiện nay. Chính vì vây, lý thuyết tài chính gây sự chú ý và tranh cãi lớn nhất là về cấu trúc vốn và bằng cách nào chúng ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Giả định của Modigliani và Miller năm 1958 là giả định đầu t iên về sự liên quan giữa cấu trúc vốn trong doanh nghiệp. Họ cho rằng “trong điều kiện nhất định, giá trị thị trường của một công ty bất kỳ độc lập với cấu trúc vốn” (Modigliani and Miller, Modigliani and Miler. Theory of Investment, pg. Theo Brealey và Myers cũng đưa ra nhận định rằng “sự lựa chọn trong việc kết hợp các nguồn tài chính dài hạn thường được gọi là cấu trúc vốn” (Brealey and Myers, Fundamentals of Corporate Finance, pd.
Bên cạnh đó, để hiểu một cách thông dụng ta có khái niệm sau: “Theo cách phân chia phổ biến nhất, nguồn vốn bao gồm các khoản nợ và vốn của chủ. Nợ bao gồm nợ ngắn hạn, nợ dài hạn. Vốn của chủ có thể bao gồm vốn huy động bằng cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu tiên, lợi nhuận không chia. Tỷ Luan van trọng của các nguồn đó trong tổng nguồn chính là cơ cấu vốn” (PGS.TS Lưu Thị Hương, Giáo trình Tài chính doanh nghiệp.
Tóm lại, cấu trúc vốn nhằm mô tả nguồn gốc và sự hình thành nên nguồn vốn được các doanh nghiệp sử dụng để phục vụ cho mục đích duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh. Các nhân tố cấu thành cấu trúc vốn a. Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu chính là các nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp và các thành viên trong công ty liên doanh hoặc từ các cổ đông trong công ty cổ phần. Theo góc nhìn từ kế toán quản trị, “vốn chủ sở hữu được phản ánh trong Bảng cân đối kế toán bao gồm: vốn của các nhà đầu tư, thặng dư vốn cổ phần, lợi nhuận giữ lại, các quỹ, lợi nhuận chưa phân phối, chênh lệch tỷ giá và chênh lệch đánh giá tài sản” (Chuẩn mực kế toán số 01, tr.
Đối với một doanh nghiệp có thể có nhiều chủ sở hữu vốn như: chủ sở hữu là Nhà nước đối với doanh nghiệp Nhà nước hay chủ sở hữu là các cổ đông đối với các công ty cổ phần,.Tùy thuộc vào loại hình và đặc thù riêng của từng doanh nghiệp mà cơ cấu của vốn chủ sở hữu cũng thay đổi. Tuy nhiên, ta sẽ chỉ xét nguồn vốn chủ sở hữu trong công ty cổ phần. Vốn cổ phần là số tiền được sử dụng trong một công ty do cổ đông của nó đóng góp dưới hình thức cổ phần thông thường (vốn sở hữu) và cổ phần ưu đãi. Nó là nguồn vốn kinh doanh lâu dài khi công ty còn tồn tại.
Vốn cổ phần thường: là phần vốn được huy động từ việc chia nhỏ vốn điều lệ của công ty cổ phần thành nhiều phần bằng nhau bằng cách thông qua việc phát hành cổ phiếu thường bán ra thị trường. Luan van “Cố phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp cổ đông đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành” (Phạm Văn Hùng, Giáo trình Thị trường chứng khoán, tr. Cổ phiếu phổ thông là loại cổ phiếu phổ biến nhất trong các loại cổ phần của một công ty cổ phần. Các cổ đông khi sở hữu loại cổ phiếu này được quyền tự do chuyển nhượng, thâm chí có đầy đủ quyền biểu quyết đối với các quyết định của công ty tại Đại hội cổ đông và được hưởng cổ tức theo kết quả kinh doanh và giá trị cổ phiếu mà họ nắm giữ.
Đồng thời, cổ phiếu phổ thông có thể được phát hành hàng loạt sau khi xin phép cơ quan có thẩm quyền. Vì cổ phiếu là chứng chỉ góp vốn nên khi công ty phát hành một đợt cổ phiếu mới giúp công ty có nguồn vốn lớn. Bên cạnh đó, cổ tức sẽ là phần lợi nhuận của công ty dành để trả cho những người chủ sở hữu thường là bằng tiền hoặc cổ phiếu mới. Tuy nhiên, cổ phiếu thông thường không quy định mức cổ tức mà cổ đông nhận được bởi trả hay không với tỷ lệ bao nhiêu còn tùy thuộc vào kết quả hoạt động hay chính sách của công ty.
Vì vậy, nếu tình hình công ty càng thiếu ổn định, cổ tức mà cổ đông nhận được càng ít và có thể trì hoãn. Nhưng nếu tình hình kinh doanh công ty đạt lợi nhuận cao lại là điểm bất lợi vì lãi phải trả cho trái phiếu và cổ tức cổ phiếu ưu đãi vẫn cố định, còn cổ tức cổ phần thường sẽ tăng lên. Mặt khác, do người nắm giữ cổ phiếu thường có quyền biểu quyết các vấn đề trong nội bộ công ty nên rất dễ làm phân tán quyền sở hữu và quyền kiểm soát của cơ quan quản trị. Chi phí khi phát hành cổ phiếu thường cao hơn chi phí khi phát hành trái phiếu, công ty cần tuân thủ một chế độ công bố thông tin rộng rãi, đầy đủ và nghiêm ngặt.
Đặc biệt chi phí cổ tức cổ phiếu phổ thông không được trừ như trái phiếu, nên không tại lá chắn thuế cho công ty. Vốn cổ phần ưu đãi: là chứng khoán tài chính do công ty cổ phần phát hành cho cá nhân hay định chế đầu tư để gọi vốn dài hạn.Cổ phần ưu đãi đem Luan van lại cổ tức cố định và được chia cổ tức trước cổ phần thông thường. Về nguyên tắc, người nắm cổ phần ưu đãi sẽ không có quyền bỏ phiếu các vấn đề nội bộ của công ty. Cổ phần ưu đãi biểu quyết có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phiếu thông thường.
Số phiếu biếu quyết của một cổ phiếu sec được quy định bởi điều lệ của công ty. Cổ phần ưu đãi cổ tức là cổ phiếu khi sở hữu thì sẽ được trả cổ thức cao hơn mức cổ tức của cổ phiếu thường. Cụ thể, phần cổ tức bao gồm cổ tức cố định và cổ tức thường, phần cổ tức cố định sẽ không phụ thuộc vào kết quả hoạt động của công ty. Hơn nữa, khi sở hữu cổ phiếu ưu đãi cổ tức sẽ không có quyền biểu quyết hay đề cử người vào Hội đồng quản trị của công ty.
Cổ phần ưu đãi hoàn lại là khi có yêu cầu của người sở hữ cỏ phiếu này hoặc theo điều kiện ghi trên cổ phiếu, công ty sẽ hoàn lại vốn góp vào bất kì thời điểm nào. Khi cổ đông có cố phiếu này cũng sẽ có các quyền như cổ đông phổ thông nhưng sẽ không có quyền được biểu quyết mọi vấn đề nội bộ của công ty, dự họp hay đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát. Việc sử dụng cổ phiếu ưu đãi không chỉ mang lại nhiều thuận lợi cho công ty phát hành mà còn những khó khăn nữa. Về ưu điểm có thể thấy rằng khi phát hành cổ phiếu ưu đãi, công ty sẽ không gặp vấn đề về phân tán quyền lực, quyền biểu quyết hay kiểm soát hoạt động của công ty cho những người sở hữu cổ phiếu ưu đãi.
Hơn nữa, dù tình hình hoạt động kinh doanh của công ty có đạt hiệu quả cao cũng không thay đổi hay tăng lên giá trị lợi tức cho cố phiếu ưu đãi. Tuy nhiên, cổ tức cổ phiếu ưu đãi phải được trả trước bất kỳ cổ tức cổ phiếu thường nào. Trong trường hợp công ty phá sản, người nắm cổ phần ưu đãi được hưởng tài sản còn lại trước cổ đông thông thường và sau khi công ty đã thanh toán cho tất cả các chủ nợ. Một nhược điểm cuối cùng là chi phí phát Luan van hành cổ phiếu ưu đãi cao hơn chi phí phát hành trái phiếu và công ty cũng phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ hơn và tuân thủ nghiêm ngặt theo quy định về thông tin công bố.
Lợi nhuận không chia và các quỹ của công ty chính là phần còn lại của công ty sau khi hoàn thành nghĩa vụ thuế và chi cổ tức thường và cổ tức ưu đãi cho các cổ đông. Đồng thời, điều kiện để có lợi nhuận không chia là doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả và mang lại lợi nhuận. Đây là nguồn vốn đáng kể để hỗ trợ cho nhu cầu tăng vốn, đảm bảo rằng chi phí sử dụng vốn luôn ở mức tối thiểu. Một phần lợi nhuận cũng sẽ được trích để đóng góp vào các quỹ của công ty như quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng hay quỹ đầu tư phát triển,… Lợi nhuận không chia hoàn toàn không bị phụ thuộc vào các nền tài chính như ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng,…giúp công ty tự chủ tài chính công ty của mình cao hơn.
Đồng thời mối quan hệ với các cổ đông hay các tổ chức tín dụng được thuận lợi. Mặt khác, lợi nhuận không chi có thể làm giảm giá cổ phiếu trên thị trường, ảnh hưởng xấu đến công ty nếu công ty không trả cổ tức cho cổ đông mà giữ lợi nhuận. Nợ phải trả Nợ phải trả tức là nghĩa vụ tài chính của doanh nghiêp đối với các doanh nghiệp khác. Cụ thể là các bên cung cấp nguồn lực cho đơn vị có quyền đòi nợ đối với đơn vị khi các khoản nợ đến hạn.
Nếu các nghĩa vụ tiền tệ này phải thanh toán trong vòng 12 tháng thì gọi là các khoản nợ ngắn hạn, còn thanh toán trong vòng trên 12 tháng gọi là nợ dài hạn. Nợ phải trả ngắn hạn có tính chất chu kỳ: Các khoản thuế, BHXH phải nộp nhưng chưa đến kỳ nộp và tiền lương hay tiền công phải trả cho người lao động nhưng chưa đến kỳ trả. Đây chính là những khoản nợ ngắn hạn phát sinh lạp đi lặp lại và có tính chất chu kỳ. Đồng thời, doanh nghiệp có thể sử dụng tạm thời các khoản vay này để đáp ứng như cầu vốn mà không phải trả tiền cho Luan van việc sử dụng vốn tuy nhiên phải đảm bảo thanh toán đúng thời hạn, tránh tình trạng nợ nần dây dưa.