Luận văn tốt nghiệp cấu trúc vốn và chi phí vốn tại công ty cổ phần dược hậu giang giai đoạn 2015 2019

Tổng hợp kiến thức Cấu Trúc Vốn và Chi Phí Vốn Tại Công Ty Cổ Phần Dược Hậu Giang (2015-2019), tiếp cận khoa học, hỗ trợ học tập và nghiên cứu hiệu

Trường đại học

Trường Đại Học Kinh Tế

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận

2019

58
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN VÀ CHI PHÍ VỐN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN

1.1. Lý luận chung về cấu trúc vốn và chi phí vốn

1.1.1. Cấu trúc vốn

1.1.1.1. Khái niệm
1.1.1.2. Các nhân tố cấu thành cấu trúc vốn
1.1.1.2.1. Vốn chủ sở hữu
1.1.1.2.2. Nợ phải trả

Tóm tắt

I. Cấu trúc vốn

Cấu trúc vốn là một yếu tố quan trọng trong quản lý tài chính doanh nghiệp. Nó phản ánh cách thức mà doanh nghiệp huy động và sử dụng nguồn vốn để phục vụ cho hoạt động kinh doanh. Theo Modigliani và Miller, giá trị thị trường của một công ty không phụ thuộc vào cấu trúc vốn trong điều kiện nhất định. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng cấu trúc vốn có thể ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Cấu trúc vốn bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. Vốn chủ sở hữu là nguồn vốn thuộc sở hữu của các cổ đông, trong khi nợ phải trả là nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp đối với các bên cung cấp nguồn lực. Việc tối ưu hóa cấu trúc vốn không chỉ giúp doanh nghiệp giảm thiểu chi phí vốn mà còn nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường. Đặc biệt, trong ngành dược phẩm, việc xây dựng cấu trúc vốn hợp lý là rất cần thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững.

1.1. Vốn chủ sở hữu

Vốn chủ sở hữu là phần vốn mà các cổ đông đóng góp vào doanh nghiệp. Nó bao gồm vốn cổ phần, lợi nhuận không chia và các quỹ của công ty. Vốn cổ phần có thể được huy động thông qua việc phát hành cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi. Cổ phiếu thường cho phép cổ đông có quyền biểu quyết và nhận cổ tức, trong khi cổ phiếu ưu đãi thường có cổ tức cố định nhưng không có quyền biểu quyết. Việc sử dụng vốn chủ sở hữu giúp doanh nghiệp duy trì tính độc lập tài chính và giảm thiểu rủi ro tài chính. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp không trả cổ tức cho cổ đông, điều này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến giá cổ phiếu và lòng tin của nhà đầu tư.

1.2. Nợ phải trả

Nợ phải trả là nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp đối với các bên cung cấp nguồn lực. Nợ có thể được phân chia thành nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Nợ ngắn hạn thường bao gồm các khoản phải trả trong vòng 12 tháng, trong khi nợ dài hạn có thời hạn trên 12 tháng. Việc sử dụng nợ giúp doanh nghiệp có thêm nguồn vốn để đầu tư và mở rộng hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, nợ cũng đi kèm với rủi ro tài chính, đặc biệt là khi doanh thu không đủ để trang trải chi phí lãi vay. Do đó, doanh nghiệp cần phải cân nhắc kỹ lưỡng trong việc quyết định mức độ sử dụng nợ để đảm bảo tính ổn định tài chính.

II. Chi phí vốn

Chi phí vốn là một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Chi phí vốn bao gồm chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu và chi phí nợ. Chi phí vốn chủ sở hữu thường cao hơn chi phí nợ do rủi ro cao hơn mà các cổ đông phải chịu. Doanh nghiệp cần phải tối ưu hóa chi phí vốn để nâng cao lợi nhuận và khả năng cạnh tranh. Việc cân bằng giữa chi phí vốn và lợi nhuận là rất quan trọng, đặc biệt trong ngành dược phẩm, nơi mà chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm rất cao. Doanh nghiệp cần phải có chiến lược tài chính hợp lý để đảm bảo rằng chi phí vốn không vượt quá lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh.

2.1. Chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu

Chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu là chi phí mà doanh nghiệp phải trả cho các cổ đông để bù đắp cho rủi ro mà họ phải chịu. Chi phí này thường được tính toán dựa trên tỷ suất sinh lợi kỳ vọng mà các cổ đông mong muốn. Doanh nghiệp cần phải đảm bảo rằng tỷ suất sinh lợi này cao hơn chi phí sử dụng vốn để thu hút và giữ chân các nhà đầu tư. Việc không đáp ứng được kỳ vọng của cổ đông có thể dẫn đến việc giảm giá cổ phiếu và mất lòng tin từ thị trường.

2.2. Chi phí nợ

Chi phí nợ là chi phí mà doanh nghiệp phải trả cho các khoản vay mà họ đã huy động. Chi phí này thường thấp hơn chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu do lãi suất vay có thể được khấu trừ thuế. Tuy nhiên, việc sử dụng nợ cũng đi kèm với rủi ro tài chính, đặc biệt là khi doanh thu không đủ để trang trải chi phí lãi vay. Doanh nghiệp cần phải quản lý nợ một cách hiệu quả để đảm bảo rằng chi phí nợ không ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình tài chính của công ty.

III. Thực trạng tại Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang 2015 2019

Trong giai đoạn 2015-2019, Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang đã có những bước tiến đáng kể trong việc tối ưu hóa cấu trúc vốnchi phí vốn. Công ty đã thực hiện các biện pháp nhằm cải thiện khả năng huy động vốn và giảm thiểu chi phí sử dụng vốn. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức mà công ty phải đối mặt, đặc biệt là trong việc cân bằng giữa chi phí hoạt độngdoanh thu. Việc phân tích tình hình tài chính của công ty cho thấy rằng mặc dù doanh thu có xu hướng tăng, nhưng chi phí vốn vẫn ở mức cao, ảnh hưởng đến lợi nhuận cuối cùng. Do đó, công ty cần phải có những giải pháp cụ thể để cải thiện tình hình tài chính.

3.1. Đánh giá cấu trúc vốn

Cấu trúc vốn của Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang trong giai đoạn 2015-2019 cho thấy sự gia tăng tỷ lệ nợ trong tổng nguồn vốn. Điều này cho thấy công ty đã sử dụng nợ như một công cụ để mở rộng hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ cao cũng đồng nghĩa với việc công ty phải đối mặt với rủi ro tài chính lớn hơn. Việc đánh giá cấu trúc vốn cần phải được thực hiện định kỳ để đảm bảo rằng công ty duy trì được tính ổn định tài chính.

3.2. Đánh giá chi phí vốn

Chi phí vốn của Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang trong giai đoạn này cho thấy rằng chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu vẫn ở mức cao. Điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của công ty trên thị trường. Công ty cần phải tìm kiếm các nguồn vốn với chi phí thấp hơn để tối ưu hóa lợi nhuận. Việc phân tích chi phí vốn cũng cần phải được thực hiện thường xuyên để đảm bảo rằng công ty có thể điều chỉnh chiến lược tài chính kịp thời.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận về cấu trúc vốn và chi phí vốn trong Công ty Cổ phần. Chương 2: Thực trạng về cấu trúc vốn và chi phí vốn của Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang giai đoạn 2015-2019. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện cấu trúc vốn và chi phí vốn của Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang. Luan van CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN VÀ CHI PHÍ VỐN TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 1.

Lý luận chung về cấu trúc vốn và chi phí vốn 1. Cấu trúc vốn 1. Khái niệm Đối với một doanh nghiệp để có thể độc lập và tự chủ về tài chính là một vấn đề khá khó đặc biệt là đối với các doanh nghiệp còn non trẻ hiện nay. Chính vì vây, lý thuyết tài chính gây sự chú ý và tranh cãi lớn nhất là về cấu trúc vốn và bằng cách nào chúng ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Giả định của Modigliani và Miller năm 1958 là giả định đầu t iên về sự liên quan giữa cấu trúc vốn trong doanh nghiệp. Họ cho rằng “trong điều kiện nhất định, giá trị thị trường của một công ty bất kỳ độc lập với cấu trúc vốn” (Modigliani and Miller, Modigliani and Miler. Theory of Investment, pg. Theo Brealey và Myers cũng đưa ra nhận định rằng “sự lựa chọn trong việc kết hợp các nguồn tài chính dài hạn thường được gọi là cấu trúc vốn” (Brealey and Myers, Fundamentals of Corporate Finance, pd.

Bên cạnh đó, để hiểu một cách thông dụng ta có khái niệm sau: “Theo cách phân chia phổ biến nhất, nguồn vốn bao gồm các khoản nợ và vốn của chủ. Nợ bao gồm nợ ngắn hạn, nợ dài hạn. Vốn của chủ có thể bao gồm vốn huy động bằng cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu tiên, lợi nhuận không chia. Tỷ Luan van trọng của các nguồn đó trong tổng nguồn chính là cơ cấu vốn” (PGS.TS Lưu Thị Hương, Giáo trình Tài chính doanh nghiệp.

Tóm lại, cấu trúc vốn nhằm mô tả nguồn gốc và sự hình thành nên nguồn vốn được các doanh nghiệp sử dụng để phục vụ cho mục đích duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh. Các nhân tố cấu thành cấu trúc vốn a. Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu chính là các nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp và các thành viên trong công ty liên doanh hoặc từ các cổ đông trong công ty cổ phần. Theo góc nhìn từ kế toán quản trị, “vốn chủ sở hữu được phản ánh trong Bảng cân đối kế toán bao gồm: vốn của các nhà đầu tư, thặng dư vốn cổ phần, lợi nhuận giữ lại, các quỹ, lợi nhuận chưa phân phối, chênh lệch tỷ giá và chênh lệch đánh giá tài sản” (Chuẩn mực kế toán số 01, tr.

Đối với một doanh nghiệp có thể có nhiều chủ sở hữu vốn như: chủ sở hữu là Nhà nước đối với doanh nghiệp Nhà nước hay chủ sở hữu là các cổ đông đối với các công ty cổ phần,.Tùy thuộc vào loại hình và đặc thù riêng của từng doanh nghiệp mà cơ cấu của vốn chủ sở hữu cũng thay đổi. Tuy nhiên, ta sẽ chỉ xét nguồn vốn chủ sở hữu trong công ty cổ phần. Vốn cổ phần là số tiền được sử dụng trong một công ty do cổ đông của nó đóng góp dưới hình thức cổ phần thông thường (vốn sở hữu) và cổ phần ưu đãi. Nó là nguồn vốn kinh doanh lâu dài khi công ty còn tồn tại.

Vốn cổ phần thường: là phần vốn được huy động từ việc chia nhỏ vốn điều lệ của công ty cổ phần thành nhiều phần bằng nhau bằng cách thông qua việc phát hành cổ phiếu thường bán ra thị trường. Luan van “Cố phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp cổ đông đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành” (Phạm Văn Hùng, Giáo trình Thị trường chứng khoán, tr. Cổ phiếu phổ thông là loại cổ phiếu phổ biến nhất trong các loại cổ phần của một công ty cổ phần. Các cổ đông khi sở hữu loại cổ phiếu này được quyền tự do chuyển nhượng, thâm chí có đầy đủ quyền biểu quyết đối với các quyết định của công ty tại Đại hội cổ đông và được hưởng cổ tức theo kết quả kinh doanh và giá trị cổ phiếu mà họ nắm giữ.

Đồng thời, cổ phiếu phổ thông có thể được phát hành hàng loạt sau khi xin phép cơ quan có thẩm quyền. Vì cổ phiếu là chứng chỉ góp vốn nên khi công ty phát hành một đợt cổ phiếu mới giúp công ty có nguồn vốn lớn. Bên cạnh đó, cổ tức sẽ là phần lợi nhuận của công ty dành để trả cho những người chủ sở hữu thường là bằng tiền hoặc cổ phiếu mới. Tuy nhiên, cổ phiếu thông thường không quy định mức cổ tức mà cổ đông nhận được bởi trả hay không với tỷ lệ bao nhiêu còn tùy thuộc vào kết quả hoạt động hay chính sách của công ty.

Vì vậy, nếu tình hình công ty càng thiếu ổn định, cổ tức mà cổ đông nhận được càng ít và có thể trì hoãn. Nhưng nếu tình hình kinh doanh công ty đạt lợi nhuận cao lại là điểm bất lợi vì lãi phải trả cho trái phiếu và cổ tức cổ phiếu ưu đãi vẫn cố định, còn cổ tức cổ phần thường sẽ tăng lên. Mặt khác, do người nắm giữ cổ phiếu thường có quyền biểu quyết các vấn đề trong nội bộ công ty nên rất dễ làm phân tán quyền sở hữu và quyền kiểm soát của cơ quan quản trị. Chi phí khi phát hành cổ phiếu thường cao hơn chi phí khi phát hành trái phiếu, công ty cần tuân thủ một chế độ công bố thông tin rộng rãi, đầy đủ và nghiêm ngặt.

Đặc biệt chi phí cổ tức cổ phiếu phổ thông không được trừ như trái phiếu, nên không tại lá chắn thuế cho công ty. Vốn cổ phần ưu đãi: là chứng khoán tài chính do công ty cổ phần phát hành cho cá nhân hay định chế đầu tư để gọi vốn dài hạn.Cổ phần ưu đãi đem Luan van lại cổ tức cố định và được chia cổ tức trước cổ phần thông thường. Về nguyên tắc, người nắm cổ phần ưu đãi sẽ không có quyền bỏ phiếu các vấn đề nội bộ của công ty. Cổ phần ưu đãi biểu quyết có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phiếu thông thường.

Số phiếu biếu quyết của một cổ phiếu sec được quy định bởi điều lệ của công ty. Cổ phần ưu đãi cổ tức là cổ phiếu khi sở hữu thì sẽ được trả cổ thức cao hơn mức cổ tức của cổ phiếu thường. Cụ thể, phần cổ tức bao gồm cổ tức cố định và cổ tức thường, phần cổ tức cố định sẽ không phụ thuộc vào kết quả hoạt động của công ty. Hơn nữa, khi sở hữu cổ phiếu ưu đãi cổ tức sẽ không có quyền biểu quyết hay đề cử người vào Hội đồng quản trị của công ty.

Cổ phần ưu đãi hoàn lại là khi có yêu cầu của người sở hữ cỏ phiếu này hoặc theo điều kiện ghi trên cổ phiếu, công ty sẽ hoàn lại vốn góp vào bất kì thời điểm nào. Khi cổ đông có cố phiếu này cũng sẽ có các quyền như cổ đông phổ thông nhưng sẽ không có quyền được biểu quyết mọi vấn đề nội bộ của công ty, dự họp hay đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát. Việc sử dụng cổ phiếu ưu đãi không chỉ mang lại nhiều thuận lợi cho công ty phát hành mà còn những khó khăn nữa. Về ưu điểm có thể thấy rằng khi phát hành cổ phiếu ưu đãi, công ty sẽ không gặp vấn đề về phân tán quyền lực, quyền biểu quyết hay kiểm soát hoạt động của công ty cho những người sở hữu cổ phiếu ưu đãi.

Hơn nữa, dù tình hình hoạt động kinh doanh của công ty có đạt hiệu quả cao cũng không thay đổi hay tăng lên giá trị lợi tức cho cố phiếu ưu đãi. Tuy nhiên, cổ tức cổ phiếu ưu đãi phải được trả trước bất kỳ cổ tức cổ phiếu thường nào. Trong trường hợp công ty phá sản, người nắm cổ phần ưu đãi được hưởng tài sản còn lại trước cổ đông thông thường và sau khi công ty đã thanh toán cho tất cả các chủ nợ. Một nhược điểm cuối cùng là chi phí phát Luan van hành cổ phiếu ưu đãi cao hơn chi phí phát hành trái phiếu và công ty cũng phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ hơn và tuân thủ nghiêm ngặt theo quy định về thông tin công bố.

Lợi nhuận không chia và các quỹ của công ty chính là phần còn lại của công ty sau khi hoàn thành nghĩa vụ thuế và chi cổ tức thường và cổ tức ưu đãi cho các cổ đông. Đồng thời, điều kiện để có lợi nhuận không chia là doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả và mang lại lợi nhuận. Đây là nguồn vốn đáng kể để hỗ trợ cho nhu cầu tăng vốn, đảm bảo rằng chi phí sử dụng vốn luôn ở mức tối thiểu. Một phần lợi nhuận cũng sẽ được trích để đóng góp vào các quỹ của công ty như quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng hay quỹ đầu tư phát triển,… Lợi nhuận không chia hoàn toàn không bị phụ thuộc vào các nền tài chính như ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng,…giúp công ty tự chủ tài chính công ty của mình cao hơn.

Đồng thời mối quan hệ với các cổ đông hay các tổ chức tín dụng được thuận lợi. Mặt khác, lợi nhuận không chi có thể làm giảm giá cổ phiếu trên thị trường, ảnh hưởng xấu đến công ty nếu công ty không trả cổ tức cho cổ đông mà giữ lợi nhuận. Nợ phải trả Nợ phải trả tức là nghĩa vụ tài chính của doanh nghiêp đối với các doanh nghiệp khác. Cụ thể là các bên cung cấp nguồn lực cho đơn vị có quyền đòi nợ đối với đơn vị khi các khoản nợ đến hạn.

Nếu các nghĩa vụ tiền tệ này phải thanh toán trong vòng 12 tháng thì gọi là các khoản nợ ngắn hạn, còn thanh toán trong vòng trên 12 tháng gọi là nợ dài hạn. Nợ phải trả ngắn hạn có tính chất chu kỳ: Các khoản thuế, BHXH phải nộp nhưng chưa đến kỳ nộp và tiền lương hay tiền công phải trả cho người lao động nhưng chưa đến kỳ trả. Đây chính là những khoản nợ ngắn hạn phát sinh lạp đi lặp lại và có tính chất chu kỳ. Đồng thời, doanh nghiệp có thể sử dụng tạm thời các khoản vay này để đáp ứng như cầu vốn mà không phải trả tiền cho Luan van việc sử dụng vốn tuy nhiên phải đảm bảo thanh toán đúng thời hạn, tránh tình trạng nợ nần dây dưa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận Văn Tốt Nghiệp Về Cấu Trúc Vốn và Chi Phí Vốn Tại Công Ty Cổ Phần Dược Hậu Giang Giai Đoạn 2015-2019" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức cấu trúc vốn và chi phí vốn ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang trong giai đoạn 2015-2019. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về các yếu tố tài chính quan trọng mà còn chỉ ra những thách thức và cơ hội mà công ty đã gặp phải trong việc quản lý vốn. Đặc biệt, bài viết còn nêu bật tầm quan trọng của việc tối ưu hóa cấu trúc vốn để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý tài chính và cấu trúc vốn, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận Văn Về Quản Lý Tài Chính Tại Công Ty Cổ Phần Bibica, nơi phân tích các phương pháp quản lý tài chính tại một công ty khác trong ngành thực phẩm, hay Nghiên cứu ảnh hưởng của cơ cấu vốn đến hiệu quả kinh doanh của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, giúp bạn hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả kinh doanh. Cuối cùng, Nghiên cứu ảnh hưởng của thanh khoản cổ phiếu đến cấu trúc vốn của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ cung cấp thêm thông tin về cách thanh khoản ảnh hưởng đến quyết định cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực tài chính doanh nghiệp.