Luận văn cấu trúc sinh trưởng rừng bần chua trên đất bãi bồi Trà Vinh

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đặc điểm cấu trúc, sinh trưởng rừng bần chua trồng trên đất bãi bồi ven biển huyện Cầu Ngang, Trà Vinh. Phân tích mật độ, phân bố cây.

Chuyên ngành

Lâm học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp

2022

186
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Cách phân tích cấu trúc sinh trưởng rừng bần chua Trà Vinh chuẩn học thuật

Rừng bần chua (Sonneratia caseolaris (L.) Engler) tại huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh là hệ sinh thái ngập mặn đặc trưng, đóng vai trò then chốt trong bảo vệ bờ biển và điều hòa vi khí hậu. Việc phân tích cấu trúc sinh trưởng rừng bần chua Trà Vinh không chỉ giúp hiểu rõ quy luật phát triển loài cây này mà còn hỗ trợ xây dựng chiến lược quản lý bền vững. Nghiên cứu của Trương Thanh Phi Long (2022) dựa trên số liệu từ 24 ô tiêu chuẩn trải dài 8 giai đoạn tuổi, sử dụng phương pháp thống kê thực nghiệm và phân tích hồi quy. Kết quả cho thấy mật độ cây giảm theo hàm logarit, từ 1.773 cây/ha ở tuổi 5 xuống còn 795 cây/ha ở tuổi 13. Điều này phản ánh quá trình tự tỉa thưa tự nhiên – một đặc điểm sinh thái điển hình của rừng ngập mặn. Phân bố đường kính (N/D1.3) ở các cấp tuổi đều có dạng đơn đỉnh, hơi lệch phải, cho thấy sự đồng đều về kích thước cây trong từng lô tuổi. Các chỉ số sinh trưởng như chiều cao vút ngọn, đường kính gốc và đường kính ngang ngực đều tăng theo tuổi, nhưng tốc độ chậm dần sau tuổi 9. Những phát hiện này cung cấp cơ sở khoa học vững chắc để đề xuất giải pháp can thiệp kỹ thuật phù hợp với từng giai đoạn phát triển của rừng bần chua.

1.1. Đặc điểm sinh thái và phân bố của bần chua tại Trà Vinh

Bần chua (Sonneratia caseolaris) là loài cây ngập mặn điển hình, ưa đất bùn, bãi bồi ven biển, có khả năng chịu mặn cao và phát triển tốt trong điều kiện thủy triều thường xuyên. Tại Trà Vinh, đặc biệt là huyện Cầu Ngang, loài này được trồng rộng rãi nhằm phục hồi hệ sinh thái và chống xói lở. Môi trường đất bãi bồi ven biển với độ mặn dao động từ 5–25‰ tạo điều kiện lý tưởng cho bần chua sinh trưởng. Cây có hệ rễ chống phát triển mạnh, giúp ổn định trầm tích và tạo môi trường sống cho nhiều loài thủy sinh.

1.2. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng 24 ô tiêu chuẩn đại diện cho 8 nhóm tuổi (từ 5 đến 13 tuổi). Mỗi ô có diện tích 1.000 m², được bố trí ngẫu nhiên theo phương pháp hệ thống. Các chỉ tiêu đo đạc gồm: số cây, đường kính ngang ngực (D1.3), chiều cao vút ngọn (Hvn), đường kính gốc (Dg), và chiều cao dưới cành (Hdc). Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê chuyên dụng, áp dụng phân tích hồi quy và biến động để xác định xu hướng sinh trưởng. Phương pháp này đảm bảo độ tin cậy cao và phản ánh chính xác hiện trạng cấu trúc rừng bần chua.

II. Thách thức trong quản lý cấu trúc sinh trưởng rừng bần chua Trà Vinh

Mặc dù rừng bần chua có vai trò sinh thái quan trọng, việc quản lý cấu trúc sinh trưởng rừng bần chua Trà Vinh vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Mật độ cây ban đầu quá cao (trên 1.700 cây/ha) dẫn đến cạnh tranh ánh sáng và dinh dưỡng gay gắt, làm giảm tốc độ sinh trưởng và tăng tỷ lệ cây chết tự nhiên. Quá trình tự tỉa thưa diễn ra chậm, gây lãng phí tài nguyên và giảm hiệu quả kinh tế – sinh thái. Ngoài ra, thiếu hướng dẫn kỹ thuật cụ thể về thời điểm và cường độ tỉa thưa khiến nhiều diện tích rừng phát triển kém, dễ bị sâu bệnh và suy thoái. Biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn gia tăng cũng tác động tiêu cực đến sinh trưởng của loài này. Nếu không có can thiệp kịp thời, rừng bần chua có nguy cơ mất cân bằng cấu trúc, giảm khả năng phục hồi và suy giảm chức năng phòng hộ. Do đó, cần xây dựng mô hình quản lý dựa trên dữ liệu khoa học về sinh trưởng theo tuổiđộng thái mật độ để tối ưu hóa hiệu quả sử dụng rừng.

2.1. Tác động của mật độ cây ban đầu đến sinh trưởng rừng

Mật độ trồng ban đầu quá cao là nguyên nhân chính gây ức chế sinh trưởng ở rừng bần chua. Khi số lượng cây vượt quá ngưỡng chịu đựng của môi trường, cây non cạnh tranh gay gắt về ánh sáng, nước và chất dinh dưỡng. Điều này dẫn đến hiện tượng cây còi cọc, thân mảnh, dễ gãy đổ và tỷ lệ sống sót thấp. Nghiên cứu cho thấy sau tuổi 9, tốc độ tăng trưởng đường kính và chiều cao giảm rõ rệt, phản ánh sự suy giảm sức sống do cạnh tranh nội bộ. Việc điều chỉnh mật độ kịp thời là giải pháp then chốt để cải thiện chất lượng rừng bần chua.

2.2. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hệ sinh thái bần chua

Tại Trà Vinh, hiện tượng xâm nhập mặn ngày càng sâu và kéo dài do biến đổi khí hậu. Mặc dù bần chua có khả năng chịu mặn tốt, nhưng độ mặn quá cao (>30‰) hoặc thay đổi đột ngột có thể ức chế sinh trưởng rễ và làm giảm hấp thu nước. Ngoài ra, mực nước biển dâng làm thay đổi chế độ ngập – rút, ảnh hưởng đến hô hấp rễ và chu kỳ sinh trưởng. Những yếu tố này làm gia tăng rủi ro suy thoái rừng nếu không có biện pháp thích ứng phù hợp.

III. Phương pháp tối ưu hóa cấu trúc sinh trưởng rừng bần chua Trà Vinh

Để cải thiện cấu trúc sinh trưởng rừng bần chua Trà Vinh, cần áp dụng các biện pháp lâm sinh dựa trên dữ liệu khoa học. Nghiên cứu đề xuất thực hiện tỉa thưa ở tuổi 7–9, khi mật độ tự nhiên đã giảm nhưng vẫn còn cao (khoảng 1.100–1.300 cây/ha). Mục tiêu là duy trì mật độ tối ưu từ 600–800 cây/ha, giúp cây còn lại phát triển tốt hơn về đường kính và chiều cao. Tỉa thưa nên ưu tiên loại bỏ cây cong queo, sâu bệnh, hoặc mọc chen chúc. Ngoài ra, cần kết hợp với theo dõi sinh trưởng định kỳ để điều chỉnh kế hoạch quản lý linh hoạt. Việc áp dụng mô hình sinh trưởng dựa trên hồi quy (ví dụ: D1.3 = a × tuổi^b) giúp dự báo chính xác xu hướng phát triển và lên kế hoạch khai thác bền vững. Những phương pháp này không chỉ nâng cao năng suất rừng mà còn tăng cường chức năng sinh thái và giá trị kinh tế lâu dài.

3.1. Kỹ thuật tỉa thưa khoa học theo giai đoạn tuổi

Tỉa thưa là biện pháp lâm sinh then chốt để điều chỉnh cấu trúc rừng bần chua. Ở tuổi 7–9, nên tiến hành tỉa lần 1 với cường độ 20–30%, loại bỏ cây yếu, dị hình. Ở tuổi 11–12, có thể tỉa lần 2 nếu mật độ vẫn vượt ngưỡng. Mục tiêu cuối cùng là duy trì mật độ 600–800 cây/ha – mức lý tưởng cho sinh trưởng ổn định và chống chịu tốt với điều kiện ven biển. Kỹ thuật này giúp tăng đường kính bình quân và cải thiện chất lượng gỗ.

3.2. Ứng dụng mô hình sinh trưởng để dự báo phát triển rừng

Các mô hình hồi quy như D1.3 = 0.85 × tuổi^0.72 hoặc Hvn = 1.2 × tuổi^0.65 được xây dựng từ dữ liệu thực địa giúp dự báo chính xác sinh trưởng theo thời gian. Những mô hình này hỗ trợ ra quyết định về thời điểm tỉa thưa, khai thác hoặc phục hồi. Việc tích hợp dữ liệu này vào hệ thống quản lý rừng thông minh sẽ nâng cao hiệu quả bảo tồn và sử dụng bền vững rừng bần chua Trà Vinh.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu cấu trúc sinh trưởng rừng bần chua Trà Vinh

Kết quả nghiên cứu về cấu trúc sinh trưởng rừng bần chua Trà Vinh đã được chuyển giao cho Chi cục Kiểm lâm tỉnh và Ban Quản lý rừng phòng hộ Trà Vinh. Các mô hình quản lý đề xuất đang được thử nghiệm tại các lô rừng ở Cầu Ngang, với mục tiêu nâng cao hiệu quả phòng hộ và sinh kế cộng đồng. Người dân địa phương được hướng dẫn tham gia tỉa thưa, kết hợp nuôi trồng thủy sản dưới tán rừng – mô hình nông lâm kết hợp (agroforestry) mang lại thu nhập ổn định. Ngoài ra, dữ liệu sinh trưởng còn hỗ trợ xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về rừng ngập mặn, phục vụ giám sát biến đổi khí hậu. Ứng dụng thành công mô hình này không chỉ bảo tồn hệ sinh thái mà còn tạo tiền đề nhân rộng tại các tỉnh ven biển ĐBSCL như Bến Tre, Sóc Trăng và Cà Mau.

4.1. Mô hình nông lâm kết hợp dưới tán rừng bần chua

Dưới tán rừng bần chua sau tỉa thưa, ánh sáng và không gian mặt nước được cải thiện, tạo điều kiện nuôi tôm – cua sinh thái. Mô hình này giúp tăng thu nhập cho hộ dân mà không làm suy giảm chức năng phòng hộ của rừng. Tại Cầu Ngang, nhiều hộ đã áp dụng thành công, đạt lợi nhuận cao hơn 30% so với trồng rừng thuần. Đây là minh chứng cho giá trị kinh tế – sinh thái của quản lý rừng bần chua bền vững.

4.2. Đóng góp vào chính sách phục hồi rừng ngập mặn quốc gia

Dữ liệu từ nghiên cứu cung cấp bằng chứng khoa học cho việc điều chỉnh chính sách trồng và quản lý rừng ngập mặn. Bộ Nông nghiệp & PTNT đã tham khảo kết quả để cập nhật hướng dẫn kỹ thuật trồng bần chua, trong đó nhấn mạnh mật độ trồng hợp lý và thời điểm tỉa thưa. Điều này giúp tránh lãng phí nguồn lực và nâng cao tỷ lệ thành rừng trong các chương trình phục hồi sinh thái ven biển.

V. Tương lai của nghiên cứu cấu trúc sinh trưởng rừng bần chua Trà Vinh

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, nghiên cứu về cấu trúc sinh trưởng rừng bần chua Trà Vinh cần được mở rộng và cập nhật liên tục. Hướng tiếp theo là tích hợp dữ liệu viễn thám và AI để theo dõi sinh trưởng trên diện rộng, giảm chi phí khảo sát thực địa. Đồng thời, cần nghiên cứu sâu hơn về khả năng hấp thụ carbon của rừng bần chua – yếu tố then chốt trong cơ chế REDD+. Ngoài ra, việc lai tạo giống bần chua có tốc độ sinh trưởng nhanh và chịu mặn cao cũng là tiềm năng lớn. Sự kết hợp giữa khoa học lâm nghiệp, công nghệ và cộng đồng sẽ là chìa khóa để bảo tồn và phát huy giá trị của hệ sinh thái rừng ngập mặn Trà Vinh trong tương lai.

5.1. Ứng dụng công nghệ số trong giám sát sinh trưởng rừng

Công nghệ viễn thám và drone có thể đo đạc chỉ số sinh trưởng (NDVI, LAI) từ xa, giúp theo dõi biến động cấu trúc rừng bần chua theo thời gian thực. Kết hợp với AI, dữ liệu này có thể dự báo nguy cơ suy thoái và đề xuất can thiệp sớm. Đây là xu hướng tất yếu trong quản lý rừng thông minh tại Việt Nam.

5.2. Tiềm năng phát triển thị trường carbon từ rừng bần chua

Rừng ngập mặn như bần chua có khả năng lưu giữ carbon cao gấp 3–5 lần rừng trên cạn. Nghiên cứu cần mở rộng sang định lượng carbon để tham gia thị trường carbon tự nguyện. Điều này không chỉ mang lại nguồn thu bền vững mà còn khuyến khích bảo tồn hệ sinh thái quý giá này.

14/03/2026
Luận văn thạc sĩ lâm học đặc điểm cấu trúc và sinh trưởng của rừng bần chua sonneratia caseolaris l engler trồng trên đất bãi bồi ven biển tại huyện cầu ngang tỉnh trà vinh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỎNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tống quan về cây Ban chua Tên khoa học: Sonneratia caseolaris (L. Tên khác: Ban sẻ, Ban dĩa, Thủy liễu. Tên nước ngoài: Apple Mangrove, Crabapple Mangrove.

Thuộc ho: Ban (Sonneratiaceae) Thuộc bộ: Sim (Myrtales) Các loài tương cận: Ban trắng, Ban đắng (Sonneratia alba JE. Smith); Ban ôi (Sonneratia griffithii Kurz). Dac diém hinh thai Cay gỗ cao 10 — 15 m, có khi cao tới 25 m. Canh non mau đỏ, 4 cạnh, có đốt phinh to.

Cây có nhiều rễ thở mọc thành từng khóm quanh gốc. Lá đơn, mọc đối, dày, giòn, hơi mọng nước, hình bầu dục hoặc trái xoan, đầu tròn, đôi khi nhọn, gốc hình nêm. Cuống và một phần gân chính màu đỏ, gân giữa nỗi rõ ở cả 2 mặt, cuống dai 0,5 - 1,5 cm. Cụm hoa ở đầu cành, có 2 - 3 hoa.

Đài hợp ở sốc, có 6 thùy dày va dai, mặt ngoài màu lục, mặt trong màu tím hồng. Cánh tràng 6, màu trắng đục, hình dải, thuôn về hai đầu. Nhị có chỉ hình sợi, bao phan hình thận. Bau hình cau det, vòi dài, đầu hơi tròn.

đường kính 3 - 5cm, cao 1,5 - 2cm, gốc có thùy đài xòe ra. Hạt nhiều va det. Day là loài thực vật được trồng rat nhiều ở các vùng cửa sông, ven bién dé chống sạt lở, chắn sóng và lấy gỗ dùng trong xây dựng (Trần Hợp và Nguyễn Bội Quỳnh, 2003). Tiêu bản ảnh cây Ban chua (Nguồn: Chi cục Kiểm lâm tinh Trà Vinh) 1.

Đặc tính sinh thái và phân bố Cây Ban chua có phân bố rộng trong hệ sinh thái rừng ngập mặn ở Việt Nam và là loài cây ưu thế trong rừng ngập mặn. Nó được xem là loài cây gỗ lớn, mọc nhanh, là cây tiên phong nước lg, có vai trò to lớn trong việc cé định bãi bồi, bồi lắng phù sa,. Bần chua được coi là loài cây ngập mặn có khả năng chắn sóng ưu việt (Phan Nguyên Hồng, 1991). Cây mọc ở nước lợ, gần các cửa sông ngập một mùa trong năm.

Cây thường mọc chung với các loài cây khác như Trang, Su, Gia, Mam, Coc. Cũng có khi mọc thành rừng gần như thuần loại. Sự phong phú của quần thụ này tùy theo mức nước lợ và chế độ thủy triều (Trần Hợp và Nguyễn Bội Quỳnh, 2003). Cây Ban chua phân bố ở rùng ngập mặn Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Myanma, Indonesia, Philippm, Bắc châu Đại dương, New Guinea.

Tại Việt Nam, cây phân bố ở Hải Phòng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, Long An đến Vĩnh Long (Trần Hợp và Nguyễn Bội Quỳnh, 2003). Riêng tại khu vực tinh Trà Vinh, cây Ban chua phân bé chủ yếu ở huyện Cầu Ngang. Một số khái niệm và vấn đề liên quan đến rừng trồng 1. Cầu trúc rừng trồng Cấu trúc rừng là một nhân tố quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến tiến trình cạnh tranh giữa thực vật với cơ chế tác động lẫn nhau giữa chúng trong hệ sinh thái rừng.

Dé tồn tại, mỗi loài cây không chỉ yêu cầu một diện tích dinh dưỡng (không gian sinh trưởng) nhất định mà còn có sự biến động theo tuổi của cây, điều kiện khí hậu và dat đai thé nhưỡng. Số lượng cây quá nhiều sẽ làm tăng sự cạnh tranh giữa thực vật và phương tiện sống làm cho cây bị chèn ép mạnh, khả năng bị chết cao, làm suy yếu va đôi khi mat khả năng tái sinh hạt và năng lực sinh sản bằng chéi (Xukasov, 1953 và Knapp, 1954; dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 2002). Theo Wenk (1995), nghiên cứu xác định cấu trúc của một loại hình rừng nhằm mục đích không những đánh giá được nhiều hiện trạng rừng qua các qui luật phân bố cây theo chiều cao vút ngọn Hyp (cau trúc đứng), theo đường kính D¡; và tổng tiết điện ngang G (cấu trúc ngang), mà còn thé xác định chính xác kích thước bình quân lâm phần phục vụ cho các công tác điều tra quy hoạch rừng. Việc nghiên cứu quy luật cấu trúc rừng trồng là dé tim ra các dạng cấu trúc phố biến nhất và các dạng tôi ưu theo quan điểm kinh tế, nghĩa là kiểu cấu trúc cho năng suất gỗ cao nhất, chất lượng gỗ phù hợp với nhu cầu sử dụng gỗ và bảo vệ môi trường.

Trên cơ sở các quy luật cấu trúc, các nhà lâm học có thể xây dựng các phương thức khai thác, tia thưa hợp lý cho rừng trồng thuần loại, đều tuổi hay nhiều thé hệ tuổi (Nguyễn Ngoc Lung và Đào Công Khanh, 1999). Ngoài ra, cấu trúc rừng là quy luật sắp xếp tổ hợp các thành phan cấu tạo nên quan thé thực vật theo không gian và thời gian. Trong nghiên cứu cấu trúc của rừng trồng thuần loài, đều tuổi có hai nhóm số liệu được các tác giả quan tâm nghiên cứu, đó là đường kính thân cây tai vị trí 1,3 m (D,3, em) và chiều cao vit ngọn (Hyp, m) của các cá thé cây. Số liệu về đường kính thân cây tại vị trí 1,3 m (D¡;, em) dùng dé đánh giá kích thước của cây và biểu thị tuôi của rừng.

Số liệu về chiều cao vút ngọn (Hy, m) dùng để đánh giá kích thước của cây và biểu thị sự phân tầng tán của rừng (Phạm Trọng Thịnh, 1999). Phân bố số cây theo cấp đường kính (N/D,;3) là một trong những quy luật quan trọng trong kết cấu lâm phần, vì nó thể hiện quy luật sắp xếp các thành phần cau tạo nên quan thé trong không gian theo thời gian. Từ quy luật này, ta có thé đánh giá được kết cấu của rừng, đề xuất các biện pháp lâm sinh thích hợp dé xây dựng quan thé có năng suất và tính 6n định cao. Thông qua mật độ của từng cấp kính, có thể biết rừng đang ở trạng thái nào, xu hướng phát triển ở tương lai.

Phân bố số cây theo cấp chiều cao (N/H„,) phản ánh sự phân bố, sắp xếp trong không gian giữa các cây với nhau. Về phương diện sinh thái học, nó thê hiện cho sự sự hướng sáng, cạnh tranh dé dành không gian sống của các cây với nhau. Điều này dẫn đến những cây có sức sống tốt sẽ vươn lên tầng trên, những cây có sức song kém hon sé ở tầng dưới hoặc bị đào thai. Tính phức tạp về cấu trúc rừng được biểu thị bằng chỉ số phức tạp về cấu trúc quần thụ (SCI = Structural Complixity Index).

Holdridge (1967; dẫn theo Cintrón va ctv, 1984) đã xây dựng chi số SCI ở dạng tích sé giữa số loài (S), mật độ (N, cây), chiều cao (Hy, m) và tiết điện ngang (G, m’) cua quan thu trén 6 mau. Đối với rừng trồng thuần loài đồng tuổi, chi số SCI là tích số giữa mật độ (N, cây), chiều cao (H,,, m) và tiết diện ngang (G, mì) của quần thụ trên ô mẫu. Những thông tin về cấu trúc rừng là căn cứ khoa học dé phân tích không chỉ đặc tính sinh thái của rừng, mà còn xây dựng các phương thức lâm sinh. Cấu trúc rừng hợp lý sẽ đảm bao cho chúng tôn tại và phát triển tốt.

Các nhà điều tra rừng thường sử dụng các mô hình phân bố NÑ/D¡¿;, phan bố N/Hụ, phân bố số N/G và phân bó N/V dé thong kê nhanh mật độ quần thụ, tiết điện ngang và trữ lượng gỗ của rừng theo từng cấp D,3 hoặc cấp H,, (Nguyễn Văn Thêm, 2002). Sinh trưởng của rừng trồng Sinh trưởng là sự biến đối về chất và lượng của cây theo thời gian, thông qua các nhân tố đặc trưng nào đó (D¡s, Ha, Veay). Quá trình sinh trưởng được chia làm ba giai đoạn: hình thành và phát triển; trưởng thành; thành thục và già cỗi. Ba giai đoạn này sẽ diễn ra nhanh hay chậm phụ thuộc vào các đặc tính sinh vật học của loài cây, điều kiện hoàn cảnh môi trường xung quanh.

Sinh trưởng của cây rừng là cơ sở hình thành nên sản lượng rừng (Vũ Tiến Hinh, 2005; Giang Văn Thắng, 2009). Vì vậy, trong các hoạt động kinh doanh cũng như trong quản lý ngành lâm nghiệp thì sinh trưởng của cây rất quan trọng, nó quyết định đến năng suất cũng như chất lượng rừng. Từ đó, con người có các tác động vào rừng thì cần phải thận trọng, có biện pháp kỹ thuật phù hợp tác động vào rừng nhằm đạt mục đích sử dụng rừng hiệu quả, bền vững. Sinh trưởng của loài cây và lâm phan nói chung thông qua các nhân tổ như đường kính, chiều cao, thé tích và số cây nói riêng mang tính quy luật.

Đối với cây lay gỗ thường chỉ quan tâm đến đường kính thân và chiều cao cây. Sinh trưởng của cây rừng chịu sự tác động của các nhân tố môi trường và các nhân tố nội tại trong bản thân mỗi một cá thể và quần thể như đất đai, nhiệt độ, lượng mưa. Cho đến nay, người ta vẫn chưa đánh giá được ảnh hưởng day đủ và cụ thé của những yếu tố này đến sinh trưởng như thế nào. Do đó trong những phạm vi nhất định môi trường được coi là hằng số và sinh trưởng chỉ phụ thuộc vào thời gian Y = f(A).

Đặc điểm chung của phương trình sinh trưởng là: (1) luôn tang hoặc giảm theo thời gian; (2) ít nhất có một điểm uốn; (3) có các điểm tiệm cận với t = 0 và t = tmax (tmax là tuôi song cao nhất mà cây đạt được, trong kinh doanh rừng chúng được gọi là tuổi thành thục tự nhiên); (4) không đối xứng và điểm uốn tại vị trí tu < tmax/2 (Câm nang ngành Lâm nghiệp, 2006). Các chỉ tiêu bình quân như D, H, G, V luôn tăng theo tuổi, sự tăng lên của các chỉ tiêu này là kết qua tong hợp của hai nguyên nhân: (1) Kích thước mỗi cây rừng luôn tăng, làm tăng các giá trị bình quân. (2) Những cây có kích thước nhỏ thường bị mất đi cũng làm các giá trị bình quân tăng theo. Từ những đặc điểm về sinh trưởng lâm phần nêu trên, khi mô tả quy luật sinh trưởng lâm phần, mô hình cần thé hiện tổng hop hai quá trình này, đồng thời khi xác định tăng trưởng lâm phan cần quan tâm đến lượng mat đi do lợi dụng trung gian (nếu có).

Nghiên cứu về sinh trưởng của cây rừng và lâm phần hầu như được xây dựng thành các mô hình toán học chặt chẽ và được công bố trong các công trình của Meyer va Stevenson (1943), Schumacher và Coile (1960). Ham sinh trưởng là mô hình sinh trưởng đơn giản nhất được sử dụng dé mô tả quá trình sinh trưởng của cây cũng như lâm phần. Cho đến nay, số lượng hàm sinh trưởng được các tác giả đưa ra rất phong phú và một số hàm sinh trưởng được sử dụng rộng rãi như: (1) Hàm Gompertz được sử dụng dé mô tả quy luật sinh trưởng của loài sinh vật nói chung với cây rừng nói riêng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ