Chương 1: Giới thiệu tổng quan, cơ sở lý luận và thực tiễn; - Chương 2: Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và thực trạng quản lý phát triển đô thị tại quận Long Biên, Hà Nội; - Chương 3: Cấu trúc nền, không gian ngầm và định hướng quy hoạch đô thị khu vực Long Biên. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Một số khái niệm - Đất nền: Là những lô đất nguyên vẹn, chưa có bất kỳ sự tác động nào từ con người như: đào bới, san lấp hay khởi công xây dựng [15]. - Nền đất yếu: Là nền đất không đủ sức chịu tải, không đủ độ bền và dễ bị biến dạng [15]. - Không gian ngầm đô thị: Là không gian dưới mặt đất được sử dụng cho mục đích xây dựng công trình ngầm đô thị [4].
- Quy hoạch đô thị: Là việc tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở để tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống trong đô thị, được thể hiện thông qua đồ án quy hoạch đô thị [4]. - Đô thị bền vững: Là đô thị đạt được sự thống nhất trong một khuôn khổ bền vững cả ba mặt: kinh tế, xã hội và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng sống của thế hệ hiện tại mà không làm ảnh hưởng tới các nhu cầu phát triển của thế hệ tương lai [23]. - Cấu trúc nền đất: Là sự phân bố không gian ba chiều của các đơn vị đất đá liên quan đến lịch sử biến dạng của chúng. Cấu trúc nền được hiểu là tầng đất phía bên dưới công trình, được đặc trưng bằng những tính chất địa chất công trình của chúng với chiều sâu từ mặt nền cho đến hết chiều sâu ảnh hưởng của công trình [15].
Ngoài các khái niệm trên, có nhiều nhà khoa học trong nước đưa ra khái niệm khác về “Cấu trúc nền đất” song nội dung cơ bản của cấu trúc nền tương đối thống nhất. Theo Nguyễn Thanh (1984)quan niệm cấu trúc nền là “tầng đất được sử dụng làm nền cho công trình xây dựng, được đặc trưng bằng những quy luật phân bố theo chiều sâu các thành phần tạo đất đá có liên kết kiến trúc, nguồn gốc, tuổi, thành phần, cấu trúc, bề dày, trạng thái và tính chất địa chất công trình không giống nhau”. Tác giả Vũ Cao Minh (1985) đưa ra khái niệm về “Cấu trúc địa cơ” và quan niệm “những thể địa chất có lịch sử phát triển và bản chất cơ học xác định được gọi là những cấu trúc địa cơ”. Còn theo tác giả Lê Trọng Thắng (1995) quan niệm “Cấu trúc nền là phần tương tác công trình và phần địa chất, được xác định bởi quy luật phân bố trong không gian, khả năng biến đổi theo thời gian của các thành phần tạo đất đá, có tính chất địa chất công trình xác định, diễn ra trong vùng ảnh hưởng của công trình.
Trong công bố nghiên cứu của mình, Phạm Văn Tỵ (1999) thì đưa ra khái niệm “cấu trúc nền được hiểu là quan hệ sắp xếp không gian các thể địa chất (yếu tố, lớp đất) cấu tạo nền đất, số lượng đặc điểm hình 4 dạng kích thước, thành phần trạng thái vàtính chất các yếu tố cấu thành này”. Theo Nguyễn Huy Phương (2004) và một số nhà khoa học khác (Nguyễn Bá Hoằng, 1997; Nguyễn Thị Thanh Nhàn, 2009; Nguyễn Thanh, 1984; Phạm Thị Thảo, 2004), cấu trúc nền theo nghĩa hẹp đối với công trình cụ thể là quan hệ sắp xếp không gian của các lớp đất đá, được đặc trưng bởi số lượng các lớp đất nền, nguồn gốc và tuổi của chúng, sự phân bố trong không gian, chiều sâu bề dày đặc điểm, thành phần kiến trúc cấu tạo, trạng thái và tính chất cơ lý của chúng nằm trong vùng tương tác với công trình [7, 10, 14]. Không thể chỉ đựa vào kết quả nghiên cứu thành phần và tính chất của đất để đánh giá khả năng xây dựng của đất, đặc biệt đối với loại đất yếu, mà cần phải dựa trên cơ sở nghiên cứu đầy đủ các đặc điểm địa chất công trình của cấu trúc nền. Trong thực tế công tác xây dựng công trình cho thấy giữa công trình, cấu trúc nền và môi trường địa chất có quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau theo cả thời gian và không gian.
Bởi vậy, khái niệm cấu trúc nền không những phản ánh những đặc điểm cấu trúc địa chất tồn tại một cách khách quan trong phạm vi ảnh hưởng của công trình mà còn chỉ ra các đặc điểm địa chất công trình khác của đất đá trong mối liên kết giữa các đơn nguyên địa chất công trình, quan hệ sắp xếp của các lớp đất đá và mối liên kết của chúng trong không gian [7, 8, 10, 24]. Như vậy, qua nghiên cứu các kết quả nghiên cứu đã công bố, có thể khái quát rằng cấu trúc nền là một phần không thể tách rời trong môi trường địa chất và chịu các tác động biến đổi diễn ra không ngừng bên dưới bản thân công trình đó; đồng thời quy luật phân bố trong không gian của các thành tạo đất đá phản ánh mối quan hệ địa chất của chúng. Đây là kết quả của quá trình thành tạo lịch sử tự nhiên của đất đá. Khả năng biến đổi theo thời gian của các thành tạo đất đá phản ánh kết quả tương tác giữa các yếu tố công trình, cấu trúc nền và môi trường địa chất.
Các yếu tố này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nghiên cứu ảnh hưởng của sự biến đổi môi trường địa chất đến các quá trình biến dạng của cấu trúc nền và công trình, cũng như các quá trình tác động ngược lại. Về mặt không gian, cấu trúc nền công trình được giới hạn bởi phạm vi ảnh hưởng của công trình theo cả chiều sâu lẫn chiều rộng nhưng chủ yếu là theo chiều sâu [6, 9, 13, 23].2 Lý thuyết về nghiên cứu cấu trúc nền Nghiên cứu địa chất công trình lãnh thổ (hoặc khu đất xây dựng) là nghiên cứu đánh giá tổng hợp các điều kiện địa chất công trình lãnh thổ hoặc khu đất xây dựng đó. Đối với công trình cụ thể còn đánh giá và dự báo các hiện tượng địa chất động lực công trình và các vấn đề địa chất công trình liên quan, những biến đổi môi trường địa chất, 5 lựa chọn các giải pháp công nghệ nền móng hợp lý, bảo đảm công trình ổn định, phát triển bền vững. Lý thuyết địa chất công trình hiện đại xem xét sự tương tác giữa các đối tượng nhân tạo (công trình) và các quyển của trái đất trong một hệ thống (TLTK).
Hệ thống bao gồm hai hợp phần tự nhiên và nhân tạo (kỹ thuật) gọi là địa hệ tự nhiên - kỹ thuật (ĐHTN - KT). Tùy theo quy mô và tính chất phức tạp của hệ thống có thể chia ra ĐHTN - KT đơn vị, địa phương, khu vực. Như vậy, lý thuyết địa chất công trình hiện đại nghiên cứu rộng hơn, toàn diện hơn so với lý thuyết trước đây [15, 23]. Khi xem xét đánh giá điều kiện địa chất công trình, hay nghiên cứu ĐHTN - KT thì đất đá đóng vai trò quan trọng nhất.
Nghiên cứu đánh giá đất đá nền thông qua đánh giá "mô hình nền", "mô hình địa cơ", "mô hình cấu trúc nền" có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong địa chất công trình và trong xây dựng. Cấu trúc nền là cơ sở địa chất công trình để quy hoạch hợp lý các công trình xây dựng. Nó giúp cho các nhà thiết kế xác định được tải trọng, quy mô, đặc điểm kết cấu, dự báo các hiện tượng địa chất động lực công trình và biến đổi môi trường địa chất, cũng như lựa chọn loại móng và các giải pháp xử lý nền thích hợp. Như vậy, trên lãnh thổ nào đó mà điển hình hóa được cấu trúc nền từ phạm vi phân bố, các kiểu, dạng cấu trúc nền sẽ giúp các nhà quy hoạch quyết định chọn, phân bố hợp lý các công trình xây dựng.
Các kiểu dạng cấu trúc nền thường điển hình hóa cho các vùng khác nhau của lãnh thổ. Mỗi kiểu cấu trúc nền thường được sử dụng nhóm phương pháp khảo sát, phương pháp đánh giá, sử dụng hợp lý và bảo vệ lãnh thổ khác nhau. Trước đây, một số tác giả đã xây dựng quan niệm mô hình nền và áp dụng phân loại cho một số vùng cụ thể. Nhưng các quan niệm ấy còn chưa toàn diện, có chỗ thiếu lôgic chặt chẽ.
Công trình xây dựng trên nền đất đá nên sẽ xảy ra tương tác giữa chúng. Tùy theo dạng, quy mô, kết cấu công trình, đặc điểm đất đá nền và các giải pháp nền móng áp dụng sẽ quyết định kích thước, hình dạng của vùng tương tác giữa công trình và nền, cũng như các quá trình vật lý, hóa học, hóa lý, cơ học diễn ra trong chúng. Nếu các công trình xây dựng gần nhau, thì các vùng nền chịu tác động tổng hợp của các công trình đó về kích thước, quy mô sẽ tăng lên, đồng thời các quá trình tác động sẽ càng phức tạp hơn [10, 15, 23]. Ngoài ra, nền là một phần không thể tách rời khỏi môi trường địa chất và chịu tác động biến đổi của môi trường địa chất.
Như vậy, vùng tương tác giữa công trình - 6 nền - môi trường địa chất trở nên phức tạp hơn nhiều. Do đó, khái niệm nền trở nên tương đối mang nghĩa rộng hơn. Khái niệm nền theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng có những điểm chung và những điểm riêng khác biệt về mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp nghiên cứu, phương pháp đánh giá chúng. Trong mô hình nền theo nghĩa rộng có xem xét đến môi trường địa chất nên nó gần gũi với lý thuyết địa chất công trình hiện đại "lý thuyết ĐHTN - KT”, "cấu trúc địa chất công trình” [15].
Mô hình nền theo nghĩa rộng phản ánh những điều kiện khách quan của nền đất đến sự phát sinh và phát triển các quá trình địa chất động lực công trình trong vùng tương tác, cũng như sự phát sinh và phát triển các quá trình cơ học, vật lý, hóa học, hóa lý khi chịu sự biến đổi của môi trường địa chất. Quan niệm mô hình nền theo nghĩa hẹp là mô hình cấu trúc nền cho đối tượng công trình xây dựng cụ thể, còn mô hình cấu trúc địa chất công trình mang đặc trưng chung cho xây dựng mọi loại công trình cũng như làm cơ sở xem xét những vấn đề quan trọng của địa chất môi trường. Mô hình nền theo nghĩa rộng có thể gọi là mô hình "cấu trúc địa chất công trình".