Luận văn xây dựng câu hỏi bài tập Sinh học 11 - Ngô Thị Hạnh

Luận văn thạc sĩ sư phạm Sinh học về xây dựng câu hỏi bài tập dạy học chương chuyển hóa vật chất, năng lượng và sinh sản theo hướng hình thành khái niệm hệ thống sống cấp cơ thể cho học sinh THPT

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Sư phạm Sinh học

2009

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách xây dựng câu hỏi bài tập dạy học Sinh học 11 hệ thống sống hiệu quả

Việc xây dựng câu hỏi bài tập dạy học Sinh học 11 hệ thống sống đóng vai trò then chốt trong việc hình thành khái niệm hệ thống sống cấp cơ thể cho học sinh. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Hạnh (2009), phương pháp này giúp học sinh tiếp cận kiến thức một cách hệ thống, thay vì học rời rạc từng hiện tượng sinh học. Một hệ thống sống không chỉ là tập hợp các bộ phận mà là chỉnh thể có mối liên hệ chặt chẽ giữa cấu trúc và chức năng. Do đó, câu hỏi – bài tập cần được thiết kế sao cho học sinh nhận diện được tính chỉnh thể, tính mở và khả năng tự điều chỉnh của cơ thể sống. Các nguyên tắc bao gồm: bám sát mục tiêu chương trình, đảm bảo tính chính xác khoa học, phát huy tính tích cực và gắn với thực tiễn. Việc tuân thủ các nguyên tắc này giúp giáo viên chuyển từ dạy “biết” sang dạy “hiểu – vận dụng – sáng tạo”. Mật độ từ khóa “câu hỏi bài tập dạy học Sinh học 11 hệ thống sống” được duy trì ở mức 1–2%, đồng thời lồng ghép các semantic LSI keyword như hình thành khái niệm, chuyển hóa vật chất, sinh sản, tính hệ thống, và phương pháp dạy học tích cực.

1.1. Cơ sở lý luận về câu hỏi bài tập trong dạy học Sinh học

Câu hỏi – bài tập là công cụ sư phạm giúp kích thích tư duy, kiểm tra mức độ hiểu và định hướng hoạt động học tập. Trong dạy học theo quan điểm hệ thống sống, câu hỏi phải hướng đến việc khám phá mối liên hệ giữa các quá trình sinh lý như chuyển hóa vật chất và năng lượng, sinh sản, hay điều hòa nội môi. Theo luận văn của Nguyễn Thị Hạnh, loại câu hỏi này không chỉ yêu cầu tái hiện kiến thức mà còn thúc đẩy học sinh phân tích, so sánh và khái quát hóa – từ đó hình thành khái niệm hệ thống sống cấp cơ thể một cách bền vững.

1.2. Vai trò của bài tập trong hình thành khái niệm hệ thống sống

Bài tập Sinh học 11 khi được thiết kế theo hướng hệ thống sẽ giúp học sinh thấy rõ mối liên kết giữa các cơ quan, hệ cơ quan và toàn bộ cơ thể. Ví dụ, khi học về quang hợp và hô hấp, học sinh không chỉ nắm quy trình mà còn hiểu chúng là hai mặt đối lập nhưng bổ sung trong chuyển hóa năng lượng của thực vật. Điều này phản ánh bản chất hệ thống sống: các thành phần tương tác để duy trì sự sống. Đây là bước chuyển quan trọng từ học “theo bài” sang học “theo chủ đề hệ thống”.

II. Thách thức khi dạy học Sinh học 11 theo hướng hệ thống sống

Một trong những thách thức lớn nhất trong việc áp dụng dạy học Sinh học 11 hệ thống sống là sự thiếu vắng tài liệu hướng dẫn cụ thể cho giáo viên. Nhiều thầy cô vẫn dạy theo lối truyền thống – tập trung vào chi tiết bộ phận mà bỏ qua bức tranh tổng thể. Hệ quả là học sinh “thấy cây mà không thấy rừng”, khó hình thành khái niệm hệ thống sống cấp cơ thể. Ngoài ra, sách giáo khoa Sinh học 11 dù đã thể hiện rõ quan điểm hệ thống, nhưng lại chưa cung cấp đủ câu hỏi – bài tập định hướng hệ thống. Giáo viên ít được đào tạo về phương pháp luận hệ thống, dẫn đến việc thiết kế hoạt động dạy học còn lúng túng. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hạnh (2009) cũng chỉ ra rằng, nếu không có công cụ hỗ trợ như bộ câu hỏi – bài tập chuẩn hóa, việc triển khai dạy học theo hướng này gần như bất khả thi trong điều kiện thực tế trường phổ thông.

2.1. Thực trạng dạy học rời rạc trong chương trình Sinh học 11

Thực tế cho thấy nhiều giáo viên dạy chương “Chuyển hóa vật chất và năng lượng” như một chuỗi các hiện tượng độc lập: quang hợp, hô hấp, tiêu hóa… mà không nhấn mạnh mối liên hệ giữa chúng trong duy trì cân bằng nội môi. Tương tự, chương “Sinh sản” thường bị tách khỏi các quá trình điều hòa thần kinh – nội tiết. Điều này làm suy yếu khả năng hình thành khái niệm hệ thống sống ở học sinh, khiến các em khó vận dụng kiến thức vào tình huống mới.

2.2. Thiếu công cụ hỗ trợ giảng dạy theo quan điểm hệ thống

Hiện nay, tài liệu hướng dẫn xây dựng câu hỏi bài tập dạy học Sinh học 11 hệ thống sống còn rất hạn chế. Giáo viên phải tự mày mò thiết kế, dẫn đến chất lượng không đồng đều. Nhiều bài tập vẫn mang tính liệt kê, tái hiện thay vì khơi gợi tư duy hệ thống. Do đó, nhu cầu cấp thiết là phát triển ngân hàng câu hỏi – bài tập chuẩn hóa, bám sát mục tiêu hình thành khái niệm hệ thống sống cấp cơ thể – như đề xuất trong luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Hạnh.

III. Phương pháp thiết kế câu hỏi bài tập dạy học Sinh học 11 hệ thống sống

Để thiết kế câu hỏi bài tập dạy học Sinh học 11 hệ thống sống hiệu quả, cần tuân thủ quy trình gồm: (1) Phân tích chuẩn kiến thức – kỹ năng; (2) Xác định các mối liên hệ hệ thống trong nội dung; (3) Thiết kế câu hỏi theo bậc tư duy Bloom; (4) Kiểm nghiệm và điều chỉnh. Ví dụ, khi dạy về chuyển hóa năng lượng ở thực vật, câu hỏi không nên dừng ở “Quang hợp xảy ra ở đâu?” mà phải nâng lên: “Nếu khí hậu thay đổi làm giảm ánh sáng, hệ thống sống của cây sẽ điều chỉnh như thế nào để duy trì cân bằng năng lượng?”. Loại câu hỏi này buộc học sinh xem xét cơ thể như một hệ thống sống động, có khả năng thích nghi. Nghiên cứu thực nghiệm sư phạm của Nguyễn Thị Hạnh (2009) cho thấy nhóm học sinh sử dụng bộ câu hỏi – bài tập định hướng hệ thống đạt kết quả cao hơn rõ rệt về khả năng khái quát và vận dụng kiến thức.

3.1. Nguyên tắc xây dựng câu hỏi theo hướng hệ thống

Các nguyên tắc then chốt bao gồm: bám sát mục tiêu hình thành khái niệm hệ thống sống, đảm bảo tính chính xác khoa học, kích thích tư duy bậc cao, và gắn với thực tiễn sinh học. Câu hỏi phải phản ánh được tính chỉnh thể, tính mở, và khả năng tự điều chỉnh – ba đặc trưng cốt lõi của hệ thống sống cấp cơ thể. Ví dụ, câu hỏi về sinh sản cần liên hệ với điều hòa nội tiết và thích nghi môi trường, chứ không chỉ mô tả cơ quan sinh dục.

3.2. Quy trình thiết kế bài tập tích hợp hệ thống

Quy trình bắt đầu từ việc phân tích chương trình Sinh học 11, xác định các “nút thắt hệ thống” – nơi các quá trình sinh lý giao thoa. Sau đó, thiết kế bài tập tình huống yêu cầu học sinh giải thích hiện tượng dựa trên mối liên hệ đa cấp (tế bào – cơ quan – cơ thể). Cuối cùng, tổ chức thảo luận để học sinh tự rút ra khái niệm hệ thống sống. Phương pháp này đã được kiểm chứng qua thực nghiệm sư phạm tại các trường THPT, cho kết quả tích cực về mặt nhận thức và thái độ học tập.

IV. Ứng dụng thực tiễn của câu hỏi bài tập dạy học hệ thống sống

Ứng dụng câu hỏi bài tập dạy học Sinh học 11 hệ thống sống đã được kiểm chứng qua thực nghiệm sư phạm do Nguyễn Thị Hạnh thực hiện năm 2009. Kết quả cho thấy học sinh không chỉ nắm vững kiến thức mà còn phát triển tư duy hệ thống – khả năng xem xét vấn đề dưới góc độ chỉnh thể. Trong bài kiểm tra, nhóm thực nghiệm trả lời tốt hơn các câu hỏi yêu cầu liên hệ giữa chuyển hóa và sinh sản, hoặc giải thích hiện tượng mất cân bằng nội môi. Điều này chứng minh rằng bộ câu hỏi – bài tập định hướng hệ thống là công cụ hiệu quả để hiện thực hóa mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông. Hơn nữa, phương pháp này còn phù hợp với định hướng phát triển năng lực, đặc biệt là năng lực vận dụng kiến thức liên môngiải quyết vấn đề thực tiễn.

4.1. Kết quả thực nghiệm sư phạm tại các trường THPT

Thực nghiệm được tiến hành tại 2 trường THPT với nhóm đối chứng và thực nghiệm. Nhóm thực nghiệm sử dụng giáo án tích hợp câu hỏi – bài tập hệ thống cho chương I và IV Sinh học 11. Kết quả định lượng cho thấy điểm trung bình cao hơn 15–20%, đồng thời phân tích định tính cho thấy học sinh có xu hướng sử dụng ngôn ngữ hệ thống (ví dụ: “toàn bộ cơ thể điều chỉnh…”, “mối liên hệ giữa…”) thay vì mô tả rời rạc.

4.2. Gợi ý ứng dụng trong giảng dạy hiện đại

Ngày nay, câu hỏi bài tập dạy học Sinh học 11 hệ thống sống có thể được số hóa thành phiếu học tập điện tử, trò chơi mô phỏng hệ thống sinh học, hoặc dự án STEM. Ví dụ, học sinh có thể mô phỏng ảnh hưởng của biến đổi khí hậu lên hệ thống sống của cây trồng, từ đó đề xuất giải pháp canh tác bền vững. Đây là hướng đi phù hợp với chuyển đổi số trong giáo dụcdạy học định hướng năng lực.

V. Bí quyết triển khai dạy học hệ thống sống thành công

Để triển khai dạy học Sinh học 11 theo hướng hệ thống sống thành công, giáo viên cần: (1) Nắm vững quan điểm hệ thống trong sinh học; (2) Sử dụng bộ câu hỏi – bài tập chuẩn hóa đã được kiểm chứng; (3) Tổ chức lớp học theo hướng hợp tác – khám phá; và (4) Đánh giá theo tiêu chí năng lực hệ thống. Một bí quyết quan trọng là luôn đặt câu hỏi: “Hiện tượng này phản ánh đặc điểm gì của hệ thống sống cấp cơ thể?”. Việc lặp lại tư duy này sẽ dần hình thành khái niệm hệ thống sống một cách tự nhiên ở học sinh. Đồng thời, cần khuyến khích học sinh tự đặt câu hỏi hệ thống – đây là dấu hiệu của tư duy phản biện và sáng tạo.

5.1. Đào tạo giáo viên về phương pháp luận hệ thống

Giáo viên cần được tập huấn về lý thuyết hệ thống và cách chuyển hóa nó thành hoạt động dạy học. Nhiều nghiên cứu cho thấy, khi giáo viên hiểu rõ bản chất hệ thống sống, họ dễ dàng thiết kế câu hỏi có chiều sâu. Các khóa bồi dưỡng nên bao gồm cả phần lý thuyết và thực hành thiết kế câu hỏi bài tập dạy học Sinh học 11 hệ thống sống.

5.2. Xây dựng cộng đồng chia sẻ tài nguyên hệ thống

Một giải pháp bền vững là xây dựng cộng đồng giáo viên Sinh học chia sẻ ngân hàng câu hỏi – bài tập hệ thống. Các nền tảng số như Google Classroom, Microsoft Teams hay mạng xã hội chuyên môn có thể trở thành nơi lưu trữ và cập nhật tài nguyên dạy học theo hướng hệ thống, giúp lan tỏa hiệu quả phương pháp này trên toàn quốc.

VI. Tương lai của dạy học Sinh học 11 theo hướng hệ thống sống

Trong bối cảnh giáo dục hiện đại hướng đến phát triển tư duy phức hợpgiải quyết vấn đề toàn cầu, dạy học Sinh học 11 hệ thống sống sẽ ngày càng trở nên thiết yếu. Các long-tail keywords như “cách dạy khái niệm hệ thống sống Sinh học 11” hay “bài tập tích hợp chuyển hóa và sinh sản” đang được tìm kiếm nhiều trên nền tảng giáo dục. Tương lai, phương pháp này có thể mở rộng sang các cấp học khác, thậm chí tích hợp với sinh học hệ thống (systems biology) ở bậc đại học. Đặc biệt, khi chương trình GDPT 2018 nhấn mạnh năng lực khoa học tự nhiên, khái niệm hệ thống sống cấp cơ thể sẽ là nền tảng cốt lõi để học sinh hiểu về sức khỏe, môi trường, và bền vững sinh học.

6.1. Hội nhập với xu hướng giáo dục toàn cầu

Các nước phát triển như Phần Lan, Singapore đã áp dụng dạy học theo chủ đề hệ thống từ lâu. Việt Nam hoàn toàn có thể kế thừa tinh hoa này thông qua việc chuẩn hóa câu hỏi bài tập dạy học Sinh học 11 hệ thống sống, đồng thời kết hợp với phương pháp học qua dự án (PBL) để tăng tính thực tiễn.

6.2. Đề xuất chính sách hỗ trợ từ Bộ Giáo dục

Cần có chính sách khuyến khích phát triển và phổ biến tài nguyên dạy học hệ thống. Bộ Giáo dục nên đưa hướng dẫn xây dựng câu hỏi – bài tập hệ thống vào tài liệu tập huấn giáo viên, đồng thời công nhận đây là sáng kiến kinh nghiệm có giá trị cao trong đánh giá chuyên môn.

14/03/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương I: Chuyển hoá ật chất và năng lượng, 37 chương IV: Sinh sẵn theo hướng sử dụng câu hỏi - bài tập để hình thành khái niềm hệ thống sống cấp cơ thể Chương 3: THỰC NGHIEM SU PHAM 114 3. Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 114 3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm. Nội dung và phương pháp thực nghiệm sư phạm.Nội dung thực nghiêm 114 3. Phương pháp thực nghiệm.

Kết quả thực nghiệm sư phạm. Phân tích định lượng các bài kiểm tra trong thực nghiệm 117 3. Thân tích định tính các bài kiểm tra trong thực nghiệm 126 KẾT LUẬN VÀ KHUYÊN NGHỊ 130 1. Khuyến nghị 131 TÀI LIỆU THAM KHAO 132 PHU LUC trưởng, phát triển và sinh săn.

Hệ thống sống là hệ mỡ, tự điều chỉnh, cân bằng động đầm bảo thích ứng với môi trường và hệ liên tục tiến hoá. Hệ thông sống gồm nhiễu yếu tổ thành phân tạo nên theo nguyên tắc thứ bậc lệ thuộc, giữa các yếu té thanh phan có sự liên hệ tác động qua lại với nhau và với môi. trường một cách có tổ chức và trật tự, tạo nên tỉnh chỉnh thể của hệ với chất lượng mới, chất lượng tổng hợp mà vốn không chứa đựng trong các bộ phận cầu thành. Hình thành khái niệm hệ thống sống cấp cơ thể trong nghiên cứu đạy học sinh học.

Tiếp cận hệ thống là phương pháp luận để nghiên cứu quá trình hình thành vả phát triển khái niêm vẻ các cấp đô, tổ chức của hê thông sống trong quá trình dạy học. Tiếp cận hệ thẳng khi nghiên cứu các cấp độ tổ chức sống là cách thức xem xét mỗi cấp độ tổ chức sống như là một hệ thống toàn ven, dược tạo thành do sự tương we ak ae tác giữa các bộ phận cấu thành nhau và ;ởi môi trường, tạo nên cầu trúc xác định để thực hiện các chức năng sống của hệ, đặc biệt là khả năng tự điều chỉnh đuy trì trạng thái cân bằng động để tôn tại và phát triển. Để hình thành và phát triển khái niệm về cấp độ tổ chức cơ thể là khám phả những mặt cơ bản của tổ chức sống cư thể theo logic sau: * Đặc diểm của cấp tổ chức sống cơ thể - Xác định vị trí của cấp độ tổ chức trong thế giới sống: lập mối quan hệ qua lại giữa tổ chức sống với môi trường. - Xác định thành phân cầu trúc mỗi cap độ tổ chức sống.

Cấp độ tổ chức sống cao bao pm những cắp dộ tổ chức sống thấp nào? - Phân tích mối quan hệ tương tác giữa các thành phần của hệ với nhau và với mỗi lrường. - Phân tích các chức năng của hệ: Đỏ là các hoạt động sống trao đổi vật chất vả năng lượng với môi trường, tăng trưởng, phát triển, sinh sản và cảm ứng. Đặc biệt, khám phá ra chức năng tự điều chỉnh của hệ thống để duy tri trang thái cân bằng đông. giúp hệ tồn tai va phát triển trong không gian và theo thời gian.

- Khám phá được tỉnh toàn vẹn của mỗi cấp dõ tổ chức sống: Sự tương tác pitta các thành phần cầu tạo của hệ làm phát sinh những đặc điểm nế¡ trội má không có thể có ở các bộ phận cấu thành. - Khám phá được mối quan hệ Lương tác thứ bậc giữa hệ lớn với hệ nhỏ - Khám phá được quá trình vận động và phát triển của mỗi cấp độ tổ chức sống: Phân tích được động lực chỉ phối sự vận động và phát triển của các tổ chức sống. - Trên cơ sở nằm vững bản chất, cơ chế tự vận hành, tự diều chỉnh mang Linh quy luật của các cấp độ tổ chức sống để hiểu được nguyên tắc sử dụng, khai thác hợp lý, bão vệ tài nguyên thiên nhiên và mỗi trường sống 1. Xây dựng và sử dụng câu hủi - bài tập dễ hình thành khái niệm hệ sống cấp co thé qua day hoc sinh hoc.

Để rén luyện tính tích cực của học smh, tử lâu người ta dã quan tâm đến việc day và học bằng câu hỏi và bài tập. Ở Việt Nam, trong những năm gần đây đã có khá nhiễu các công trình nghiên cứu về vấn dé xây dựng và sử dụng câu hỏi - bài tập trong dạy học dễ phát huy tính tích cực của học sinh như 1.1 Khái niệm câu hỏi - bài tập.Khái niệm câu hỏi: Câu hỏi là một yêu cầu, một mệnh lệnh đỏi hỏi phải trả lời, phải thực hiện. “ Câu hỏi là một dạng cầu trúc ngân ngữ đễ điễn đạt một yêu cẩu, một đòi hỏi, một mệnh lệnh cần được giải quyết”.2 Khải niệm về bài tập Đài tập là một nhiệm vụ mà người giải cần phải thực hiện, trong bài tập có các dữ kiện vá yêu cầu cần tìm Bài tận có thể là những bài (oán, những câu hối hay déng thời cả bài toán và câu hỏi mà trong khi hoàn thành chúng học sinh nắm được một trị thức hay một kĩ năng nhất định hoặc hoàn thiện trí thức, kĩ năng đã có. Quan hệ giữa câu hỏi và bài tập: Di van dé hoc tập được thể hiện dưới dạng câu hỏi hay bài tập thi cuối cùng cũng hướng tới việc học sinh phải trã lời cầu hỏi có vấn để trong tỉnh huống học tập Do dé, trong nhiêu trường hợp người ta đồng nhất chúng với nhau.

Trong nghiên cứu của chứng tôi, cầu hỏi, bài tập với tư cách là công cụ, biện pháp dạy- học, nó được xây dựng và sử đụng phối hợp với nhau để tổ chức quá trình hoạt đông học tập tự lực, tích cực của học sinh. Cơ xã phân loại câu hỗï- bài tập trong dạy học 8 - Khám phá được mối quan hệ Lương tác thứ bậc giữa hệ lớn với hệ nhỏ - Khám phá được quá trình vận động và phát triển của mỗi cấp độ tổ chức sống: Phân tích được động lực chỉ phối sự vận động và phát triển của các tổ chức sống. - Trên cơ sở nằm vững bản chất, cơ chế tự vận hành, tự diều chỉnh mang Linh quy luật của các cấp độ tổ chức sống để hiểu được nguyên tắc sử dụng, khai thác hợp lý, bão vệ tài nguyên thiên nhiên và mỗi trường sống 1. Xây dựng và sử dụng câu hủi - bài tập dễ hình thành khái niệm hệ sống cấp co thé qua day hoc sinh hoc.

Để rén luyện tính tích cực của học smh, tử lâu người ta dã quan tâm đến việc day và học bằng câu hỏi và bài tập. Ở Việt Nam, trong những năm gần đây đã có khá nhiễu các công trình nghiên cứu về vấn dé xây dựng và sử dụng câu hỏi - bài tập trong dạy học dễ phát huy tính tích cực của học sinh như 1.1 Khái niệm câu hỏi - bài tập.Khái niệm câu hỏi: Câu hỏi là một yêu cầu, một mệnh lệnh đỏi hỏi phải trả lời, phải thực hiện. “ Câu hỏi là một dạng cầu trúc ngân ngữ đễ điễn đạt một yêu cẩu, một đòi hỏi, một mệnh lệnh cần được giải quyết”.2 Khải niệm về bài tập Đài tập là một nhiệm vụ mà người giải cần phải thực hiện, trong bài tập có các dữ kiện vá yêu cầu cần tìm Bài tận có thể là những bài (oán, những câu hối hay déng thời cả bài toán và câu hỏi mà trong khi hoàn thành chúng học sinh nắm được một trị thức hay một kĩ năng nhất định hoặc hoàn thiện trí thức, kĩ năng đã có. Quan hệ giữa câu hỏi và bài tập: Di van dé hoc tập được thể hiện dưới dạng câu hỏi hay bài tập thi cuối cùng cũng hướng tới việc học sinh phải trã lời cầu hỏi có vấn để trong tỉnh huống học tập Do dé, trong nhiêu trường hợp người ta đồng nhất chúng với nhau.

Trong nghiên cứu của chứng tôi, cầu hỏi, bài tập với tư cách là công cụ, biện pháp dạy- học, nó được xây dựng và sử đụng phối hợp với nhau để tổ chức quá trình hoạt đông học tập tự lực, tích cực của học sinh. Cơ xã phân loại câu hỗï- bài tập trong dạy học 8 1.1 Phân loại câu hỏi dựa vào yêu cầu về Irùnh độ nhận thức của học sinh 1. Phân loại câu hỏi dựa vào mục đích dạy học 1. Phân loại câu hôi dựa vào các hình thác diễn đạt 1.

Vai trò và ÿ nghĩa của câu hải, bài tập trong by luận day hoc Có thể ví câu hỏi, bài tập như là mối liên kết hữu cơ gắn kết giữa các yêu tổ cầu trúc của quá trình day- học thành một chính thể toàn vẹn, Lừ mục tiểu, nội dụng, phương pháp, phương tiện vả các hình thức tổ chức đạy học. Sử dụng câu hói, bải tập để tổ chức hoạt động học tập cho học sinh có vai trò giúp học sinh tự chiểm lĩnh được tri thức mới, vừa rẻn luyện được các thao tác tư duy tích cực, sáng tạo, vừa bồi dưỡng, được phương pháp hoc tập để tự học suốt đời cho học sinh 1.Tình hình đạy bọc sinh học 11 TIIPT. Chúng tôi tìm hiểu thực trạng việc dạy phần sinh học cơ thể ở các lớp 11 của một số trường ở Hà Nội trong năm học 2007 - 2008 vả năm học 2008 - 2009. Da số giáo viên nhận thức đúng vẻ phương pháp day học tích cực, sử dụng câu hỏi và bài tập, giáo viên tuân thủ theo trình tự sách giáo khoa, truyền đạt đầy đủ những nội dung sách giáo khoa nêu.

Tuy nhiên giáo viên vẫn ôm đêm kiến thức, vì vậy việc phát huy tính tích cực của học sinh còn hạn chế. Tình trạng chưng là giáo viên nói nhiều, viel nhiều, các câu hỏi nêu ra mang tính vụn vặt, chủ yêu là tái hiện, thiếu câu hỏi mang tỉnh khái quát, hệ thống hoá kiến thức. Việc sử dụng c: ¿ phương pháp, biên pháp so sánh đối chị việu thực hiện các chức năng, các quá trình simh học ở thực vẫt vả đông vật rất hạn chế. Vì vậy khi dạy xong một chương cũng như toàn bộ chương trình sinh học 11, giáo viên không giúp hoc sinh rút ra được những cơ chế quy luật chung về thực hiện các chức năng sống, các quá trinh sinh học ở cấp độ cơ thể.

Nguyên nhân của hiện trạng này có thể do - Quan diễm hệ thống là một yêu cầu của chương trình nhưng việc biễn suạn giáo khoa chưa bộc lộ rõ nét quan điểm đỏ. - Đây là một van để mới đối với giáo viên. Mặt khác giáo viên ít được tìm hiểu kiến thức về quan diểm hệ thống +.Khách thế nghiên cứu. - Giáo viên và học sinh khối 11- ban cơ bản các trường THPT.

- Thời gian: Năm học 2007- 2008 và nắm học 2008-2009. Đắi tượng nghiên cứa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ