mở đầu xâm lược nước ta, Việt Nam trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến. Cùng với việc duy trì quan hệ sản xuất phong kiến, thực dân Pháp và giai cấp địa chủ phong kiến còn lợi dụng chế độ HN & GĐ phong kiến đã tồn tại và được duy trì từ nhiều thế kỷ ở nước ta để củng cố nền thống trị của chúng. Với chính sách chia để trị, chúng chia nước ta thành 3 miền và mỗi miền áp dụng một bộ luật cụ thể: - Tại Bắc Kỳ áp dụng DLBK 1931. - Tại Trung Kỳ áp dụng TKHL 1936.
- Tại Nam kỳ áp dụng DLGY 1883. Pháp luật thời Pháp thuộc quy định chỉ có Toà án mới có quyền cho ly hôn khi có các duyên cớ ly hôn mà pháp luật đã quy định. Hai vợ chồng hoặc một trong hai vợ chồng có thể xin ly hôn (Điều 116, 117 DLBK và Điều 115, 116 TKHL). - Pháp luật quy định chồng có thể xin ly hôn vợ vì các duyên cớ sau: + Vì vợ phạm gian; +Vợ bỏ nhà chồng ra đi, tuy đã buộc phải trở về mà không chịu trở về; + Vì vợ thứ đánh, chửi, bạo hành với vợ chính.
- Người vợ có thể xin ly hôn chồng vì các duyên cớ sau đây: + Chồng không làm những nhiệm vụ đã cam kết khi kết hôn là phải nuôi nấng vợ con tuỳ theo kế sinh nhai; 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Chồng bỏ nhà đi quá 2 năm không có lý do chính đáng và không lo liệu việc nuôi nấng vợ con; + Không có lý do chính đáng mà chồng đuổi vợ ra khỏi nhà mình; + Chồng làm trái trật tự vợ chính, vợ thứ (Điều 119 DLBK và Điều 118 TKHL) - Ngoài những duyên cớ cho chồng hoặc vợ xin ly hôn nói trên, pháp luật còn quy định một số duyên cớ để cả vợ và chồng cùng có thể xin ly hôn, đó là: + Bên nọ quá khắc hành hạ, chửi rủa thậm tệ đối với bên kia, hoặc với tổ phụ bên kia; + Vì một bên can án trọng tội; + Vì một bên vô hạnh làm nhơ nhuốc đến nỗi bên kia không thể ở chung được; +Vì một bên bị tâm thần mà ai cũng biết hoặc phải ở suốt đời trong bệnh viện (Điều 120 DLBK và Điều 119 TKHL) Vợ có thể xin ly hôn mà không cần chồng cho phép. Việc tự rẫy vợ bị cấm (Điều 116 DLBK, Điều 115 HLTK). DLGY năm 1883 cũng quy định những duyên cớ ly hôn của người chồng, người vợ và của cả hai vợ chồng, nhưng đối với việc tự rẫy vợ thì quy định không rõ ràng. Thiên thứ IV quy định: “Tất cả các cuộc hộ nhân chỉ chấm dứt do vợ hay chồng chết hoặc do ly hôn” và tiếp theo là các duyên cớ ly hôn.
Nhưng ở cuối thiên thứ V, khi nói về hiệu lực của giá thú lại có quy định: “Người chồng chỉ có thể rẫy vợ trong các trường hợp được luật dự liệu”, vậy có phải là DLGY vẫn giữ các duyên cớ “thất xuất” của Luật Gia Long? Phù hợp với chính sách “chia để trị”, thực chất DLGY đã sao chép một cách máy móc BLDS Napoleon của Pháp nên không phản ánh thực trạng của xã hội Việt Nam và những phong tục truyền thống của người Việt, do vậy, ảnh hưởng của nó trên thực tế là hết sức hạn chế. 24 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cả ba bộ luật đều quy định “ngoại tình của người vợ” là duyên cớ để người chồng xin ly hôn. DLGY năm 1883 vẫn giữ quy định “tam bất khứ” của Luật Gia Long, nhưng lại trừ trường hợp “vợ ngoại tình, bị phạt về trọng tội hay tự ý bỏ nhà chồng”. Về thuận tình ly hôn, Điều 121 DLBK quy định phải có điều kiện là đã chung sống với nhau 2 năm.
Riêng Điều 120 TKHL quy định điều kiện trên là 5 năm và nếu cha mẹ là người ưng thuận việc kết hôn mà còn sống vào lúc vợ chồng xin thuận tình ly hôn, thì chỉ khi cha mẹ đồng ý thì vợ chồng mới được xin thuận tình ly hôn. Theo DLGY năm 1883 thì không được xin thuận tình ly hôn, nếu: - Chưa sống đủ 2 năm hoặc đã qua 20 năm; - Người chồng dưới 25 tuổi hay người vợ dưới 21 tuổi hoặc đã quá 45 tuổi; - Không có sự thuận tình của bố mẹ; Bình luận về duyên cớ ly hôn, một luật gia người Pháp cho rằng DLBK, sự bất bình đẳng giữa vợ chồng có “bớt lộ liễu hơn DLGY năm 1883”[33, tr. Tuy nhiên, trong cả ba Bộ luật mà thực dân Pháp ban hành ở nước ta thì người ta chú ý hơn cả đến Bộ DLBK, vì đây là Bộ luật phản ánh một phần các phong tục tập quán của người Việt, kỹ thuật lập pháp khá tinh vi, với cách thể hiện nôm na, dễ hiểu. Bởi ở Bắc kỳ, thực dân Pháp thi hành chính sách cải luơng và nhận thấy rằng pháp luật của Nhà nước phong kiến Việt Nam đã được thi hành một cách nề nếp, vững chắc, nên chỉ dựa vào đó mà thay đổi dần dần cho phù hợp với sự thống trị của chúng.
Như vậy, mặc dù ba Bộ luật đã có nhiều điểm tiến bộ đáng ghi nhận, nhưng do hoàn cảnh chính trị- xã hội lúc bấy giờ nên chúng cũng có những hạn chế nhất định đó là: Quy định hạn chế quyền ly hôn theo thời gian xác lập 25 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quan hệ hôn nhân, theo độ tuổi của vợ chồng; quy định xét xử ly hôn dựa trên cơ sở lỗi của vợ, chồng hay của cả hai vợ chồng, các điều kiện có tính chất hình thức, phản ánh nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, chứ không phải bản chất hôn nhân đã tan vỡ. Việc xét xử của Toà án rất thụ động, hoàn toàn do ý chí của đương sự quyết định. Thời kỳ từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay 1. Giai đoạn 1945 – 1975 Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử HN & GĐ nước ta.
Từ đó, nhiều văn bản pháp luật về HN & GĐ đã được ban hành nhằm củng cố và hoàn thiện các quan hệ gia đình tiến bộ. Hiến pháp 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã xác nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ về mọi phương diện. Điều 9 của Hiến pháp quy định: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc đấu tranh xoá bỏ hôn nhân phong kiến, đặt cơ sở cho chế độ HN & GĐ tiến bộ, dân chủ.
Để đáp ứng tình hình nhiệm vụ của giai đoạn Cách mạng mới sau khi giành được chính quyền, Nhà nước ta đã ban hành Sắc lệnh 97/SL ngày 22/5/1950 sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật. Sắc lệnh khẳng định, xoá bỏ tính cách phong kiến, cửa quyền, gia trưởng cũ quá ràng buộc và áp bức cá nhân trái với mục đích giải phóng con người của một nền pháp luật dân chủ. Cũng trong năm này, Nhà nước lại ban hành Sắc lệnh 159/SL, ngày 17/11/1950 quy định về ly hôn. Theo đó, đã xoá bỏ sự bất bình đẳng về duyên cớ ly hôn giữa vợ và chồng.
Tại Điều 2, Sắc lệnh quy định: Toà án cho phép ly hôn trong những trường hợp sau: ngoại tình; một bên can án phạt giam; một bên mắc bệnh điên hoặc một bệnh khó chữa khỏi; một bên bỏ đi quá 2 năm mà không có duyên cớ chính đáng; vợ chồng tính tình không hợp hoặc đối xử với nhau đến nỗi không thể chung sống được nữa. Tuy đề ra được một 26 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com số nguyên tắc chung tiến bộ trong giải quyết những vấn đề về HN & GĐ, nhưng hai Sắc lệnh này cũng còn những hạn chế nhất định. Sắc lệnh 159/SL đã xoá bỏ những duyên cớ ly hôn được quy định trong các bộ dân luật cũ thể hiện quan hệ bất bình đẳng của vợ chồng khi ly hôn. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội lúc bấy giờ, Sắc lệnh 159/SL quy định vấn đề ly hôn cũng mới chỉ nhằm đấu tranh đòi quyền bình đẳng giữa vợ và chồng, xoá bỏ quyền gia trưởng… nên Sắc lệnh còn có những hạn chế nhất định.
Mặc dù Sắc lệnh đã quy định căn cứ ly hôn áp dụng chung cho cả vợ và chồng và đảm bảo quyền yêu cầu ly hôn của cả vợ và chồng, song Sắc lệnh còn dựa vào lỗi của vợ chồng để làm căn cứ cho việc giải quyết ly hôn mà chưa xét đến bản chất là sự tan rã thực sự của hôn nhân. Xét cho cùng thì những duyên cớ đó chỉ là lý do dẫn đến sự tan rã của hôn nhân mà thôi. Sau hòa bình lập lại, miền Bắc nước ta bước vào thời kỳ Cách mạng XHCN. Quan hệ sản xuất mới XHCN được xác lập và là cơ sở vững chắc của chế độ HN & GĐ mới.
Để xoá bỏ triệt để những tàn tích lạc hậu của chế độ HN & GĐ phong kiến việc ban hành đạo luật mới về HN & GĐ đã trở thành một đòi hỏi cấp bách của toàn thể xã hội. Đó là một tất yếu khách quan thúc đẩy sự nghiệp xây dựng XHCN ở miền Bắc nước ta. Chính vì thế, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá I, ngày 29/12/1959 Luật HN & GĐ được thông qua và được công bố ngày 13/1/1960. Luật HN & GĐ năm 1959 xây dựng trên 4 nguyên tắc: Hôn nhân tự do tiến bộ; hôn nhân 1 vợ 1 chồng; nam nữ bình đẳng trong bảo vệ hạnh phúc gia đình và bảo vệ quyền lợi của con cái.
Trong đó, nguyên tắc cơ bản nhất là nam nữ bình đẳng. Các vấn đề về HN & GĐ đã được quy định khá hệ thống như vấn đề kết hôn; quan hệ cha mẹ và con cái; quan hệ vợ chồng và đặc biệt là ly hôn và hậu quả của nó đã được quy định trong một chương riêng (Chương V). 27 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luật HN & GĐ năm 1959 đã công nhận quyền tự do kết hôn và tự do ly hôn, xoá bỏ sự bất bình đẳng về duyên cớ ly hôn chung cho cả hai vợ chồng. Luật HN & GĐ năm 1959 không quy định những căn cứ ly hôn riêng biệt, mà quy định căn cứ ly hôn duy nhất cho mọi trường hợp là tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Về các trường hợp ly hôn Điều 25 và Điều 26 Luật HN & GĐ năm 1959 cũng đã quy định có hai trường hợp ly hôn là thuận tình ly hôn và ly hôn do một bên yêu cầu.