Chương I: Thụ đắc lãnh thổ theo quy định của pháp luật và trong thực tiễn quốc tế - cơ sở pháp lý để xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa. - Chương II: Luận cứ của các quốc gia tranh chấp chủ quyền quần đảo Trường Sa - Việt Nam có luận cứ pháp lý vững mạnh và thuyết phục nhất. - Chương III: Các biện pháp giải quyết tranh chấp và đấu tranh bảo vệ chủ quyền Việt Nam tại Trường Sa. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 THỤ ĐẮC LÃNH THỔ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ TRONG THỰC TIỄN QUỐC TẾ - CƠ SỞ PHÁP LÝ ĐỂ XÁC LẬP CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI QUẦN ĐẢO TRƢỜNG SA 1.
Khái niệm Việc đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ Trường Sa không những phải dựa trên những chứng cứ, các quy định pháp luật và thực tiễn đời sống pháp lý quốc tế, mà còn phải dựa vào một số vấn đề lý luận liên quan làm nề n tảng, có thể kể ra một số vấn đề như: lãnh thổ quốc gia, chủ quyền lãnh thổ, thụ đắc lãnh thổ. Vậy nên tìm hiểu một số khái niệm liên quan là rất cần thiết trước khi giải quyết vấn đề. Lãnh thổ quốc gia Lãnh thổ là thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng La tinh "Terra", có nghĩa là đất đai, trái đất. Trong quan hệ giữa các quốc gia, lãnh thổ đóng vai trò đặc biệt quan trọng, bởi đó là môi trường tự nhiên, là cơ sở vật chất cho sự tồn tại của từng quốc gia trong cộng đồng quốc tế.
Vì vậy mỗi quốc gia luôn coi trọng việc xác định và bảo vệ chặt chẽ ranh giới lãnh thổ của mình. Luật pháp quốc tế quy định rõ: “Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của việc thụ đắc bởi một quốc gia khác bằng việc đe dọa hoặc sử dụng vũ lực” [31]. Theo quy định tại điều 1 Hiến pháp 1992 (đã sửa đổi) của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm: đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời”. Điều luật tuy không đưa ra khái niệm về lãnh thổ quốc gia, nhưng có thể hiểu rằng lãnh thổ của Việt Nam bao gồm: “đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời”.
Như vậy, có lẽ vùng lòng đất và các vùng nước nội địa được gộp hoặc ẩn vào 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phần đất liền chăng? Vậy nên cần làm rõ thêm nội dung lãnh thổ nêu trong Hiến pháp 1992. Giáo trình Luật quốc tế của Trường Đại Học Luật Hà Nội, 2008 đưa ra định nghĩa sau: “Lãnh thổ quốc gia là một phần của trái đất, bao gồm vùng đất, vùng nước, vùng trời và vùng lòng đất, thuộc chủ quyền hoàn toàn, riêng biệt hoặc tuyệt đối của một quốc gia” [51]. Tuy nhiên khi phân tích đến vùng nước, giáo trình chỉ đề cập đến vùng biển. Vì vậy, theo quan điểm của tác giả luận văn, cần bổ sung thêm về nội dung này trong khái niệm lãnh thổ quốc gia.
Cụ thể, lãnh thổ quốc gia bao gồm các bộ phận sau: Vùng đất: Là bộ phận lãnh thổ quan trọng nhất và không thể thiếu của mỗi quốc gia, bao gồm đất liền của các lục địa, các đảo, quần đảo thuộc chủ quyền quốc gia. Trong một số trường hợp đặc biệt, quốc gia có các vùng lãnh thổ kín, nằm trọn vẹn và bị bao bọc bởi lãnh thổ của một quốc gia khác: ví dụ, vùng Llívia là một bộ phận thuộc lãnh thổ Tây Ban Nha nhưng nằm trọn trong lãnh thổ Pháp. Vùng nước: Là toàn bộ các vùng nước nằm phía trong đường biên giới quốc gia, gồm: - Vùng nước nội địa: hồ, sông, suối, kênh, rạch, cửa sông…. Về nguyên tắc, những vùng này có quy chế pháp lý của lãnh thổ đất liền, có nghĩa quốc gia thực hiện chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối.
Tuy nhiên, một số vùng do tính chất đặc biệt về vị trí địa lý, lợi ích kinh tế, chính trị… như vùng nước nằm trong khu vực biên giới chung giữa hai hay nhiều quốc gia, sông quốc tế, kênh quốc tế thường có quy chế pháp lý riêng và được xác định trong các điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương. - Các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia: bao gồm nội thủy, lãnh hải và vùng nước quần đảo (áp dụng đối với quốc gia quần đảo). Nội thủy là vùng nước nằm phía bên trong đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải và tiếp giáp với bờ biển của quốc gia ven biển. Lãnh hải là vùng biển nằm bên ngoài và tiếp liền nội thủy, có chiều 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com rộng không quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở.
Vùng nước quần đảo là vùng nước nằm phía bên trong đường cơ sở quần đảo. Các vùng biển nêu trên đều thuộc chủ quyền quốc gia nhưng tính chất chủ quyền trong từng vùng là khác nhau phù hợp với các quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982. Vùng trời: Là khoảng không gian bao trùm lên phạm vi vùng đất và vùng nước thuộc chủ quyền quốc gia. Song đường biên giới trên cao chưa được quy định trong luật quốc tế.
Vùng lòng đất: Là phần nằm dưới phạm vi vùng đất, vùng nước của quốc gia. Chiều sâu vùng này được mặc nhiên thừa nhận là kéo dài đến tận tâm trái đất. Chủ quyền quốc gia Mỗi quốc gia thực hiện chủ quyền với lãnh thổ của mình. Có nghĩa rằng, quốc gia có quyền tự chủ, không lệ thuộc vào các chủ thể khác của luật quốc tế, thể hiện thông qua hai nội dung chủ yếu là đối nội và đối ngoại: (i) về đối nội, quốc gia có quyền tối cao trong phạm vi lãnh thổ của mình; (ii) về đối ngoại, quốc gia có quyền quyết định thiết lập hay tham gia các quan hệ pháp luật quốc tế cụ thể, thực hiện mọi quyền hạn phù hợp với những nguyên tắc, quy phạm của luật quốc tế.
Quốc gia có quyền tối cao trong phạm vi lãnh thổ của mình, thể hiện chủ yếu thông qua việc thực hiện thẩm quyền mang tính hoàn toàn, tuyệt đối và riêng biệt. Chủ quyền quốc gia được thực hiện một cách hoàn toàn, tuyệt đối trên hai phương diện quyền lực và vật chất. - Về phương diện quyền lực, quốc gia có quyền bất khả xâm phạm về lãnh thổ; quyết định đường lối phát triển đất nước, lựa chọn các phương thức thích hợp để thực hiện quyền lực trên mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…; thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp thông qua hệ thống cơ quan nhà nước từ trung ương 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đến địa phương; thực hiện thẩm quyền đối với các cá nhân và tổ chức đang hoạt động trên lãnh thổ quốc gia. - Về phương diện vật chất, quốc gia có quyền khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên nằm phía bên trong biên giới quốc gia, bao gồm tài nguyên vùng lòng đất, tài nguyên đất, nước, không khí….
Quốc gia thực hiện quyền lực của mình một cách đầy đủ, trọn vẹn, trên cơ sở tôn trọng lợi ích của cộng đồng dân cư sinh sống trên vùng lãnh thổ đó, đồng thời phù hợp với các quyền dân tộc cơ bản. Trong phạm vi lãnh thổ, quốc gia thực hiện chủ quyền một cách riêng biệt, không chia sẻ với các chủ thể khác của luật quốc tế. Thông qua hệ thống các cơ quan nhà nước, quốc gia là chủ thể duy nhất có quyền sử dụng lãnh thổ của mình và thực hiện quyền lực trên lãnh thổ đó. Các quốc gia khác có nghĩa vụ tôn trọng, không được áp đặt quyền lực của họ và không can thiệp vào công việc nội bộ của một quốc gia.
Quốc gia hoàn toàn độc lập, không lệ thuộc vào bất kỳ chủ thể nào trong việc tham gia vào một quan hệ pháp luật quốc tế cụ thể. Việc ký kết các điều ước quốc tế, thiết lập quan hệ ngoại giao, lãnh sự hay gia nhập các tổ chức quốc tế… là những biểu hiện điển hình của việc thực hiện chủ quyền đối ngoại của quốc gia. Để đảm bảo lợi ích và chủ quyền của các quốc gia được duy trì, luật quốc tế quy định nguyên tắc bình đẳng chủ quyền quốc gia và nghĩa vụ không can thiệp vào công việc thuộc thẩm quyền nội bộ của bất kỳ quốc gia nào. Các quốc gia dù có diện tích lớn hay nhỏ, sự phát triển kinh tế và chế độ chính trị khác nhau… đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ.
Một quốc gia không phải lệ thuộc vào bất kỳ chủ thể nào của luật quốc tế. Nói cách khác, không có chủ thể siêu quốc gia, đứng trên quốc gia để ấn định cho quốc gia các quy tắc xử sự. Chính vì vậy, khái niệm chủ quyền thường gắn liền với khái niệm độc lập. Cũng chính khái niệm này dẫn đến một hệ quả pháp lý tất yếu là quốc gia phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế do các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động nhân danh quốc gia đó gây ra.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chủ quyền của Việt Nam được ghi nhận và khẳng định trong Hiến pháp 1992: “Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ”. Nhà nước “thực hiện chính sách hoà bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị và xã hội khác nhau, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi; …; tích cực ủng hộ và góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội” (điều 1, điều 14 Hiến pháp 1992 sửa đổi). Thụ đắc lãnh thổ Theo quy định của luật quốc tế, lãnh thổ quốc gia thuộc chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và riêng biệt của mỗi quốc gia. Các quốc gia có nghĩa vụ không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực nhằm chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia khác.
Vì vậy, trong các cuộc tranh chấp lãnh thổ, việc đưa ra các cở sở pháp lý và thực tiễn để xác định chủ quyền lãnh thổ của quốc gia có ý nghĩa quan trọng hàng đầu.