Chương 1: Những nhân tố tác động đến quá trình xây dựng và hoạt động của các căn cứ lõm cách mạng ở Quảng Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1965- 1975). Chương 2: Quá trình xây dựng và hoạt động của các căn cứ lõm cách mạng ở Quảng Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1965-1975). Chương 3: Đặc điểm, vai trò, bài học kinh nghiệm về xây dựng căn cứ lõm cách mạng ở Quảng Nam. CHƢƠNG 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CĂN CỨ LÕM CÁCH MẠNG Ở QUẢNG NAM TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƢỚC (1965-1975) 1.
Cơ sở lý luận về căn cứ lõm cách mạng 1. Khái niệm về căn cứ lõm cách mạng Theo Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, “căn cứ địa cách mạng là vùng tương đối an toàn, nơi đứng chân và là chỗ dựa của cách mạng để tích lũy, xây dựng, phát triển lực lượng chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội… phục vụ cho khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng” [8, tr. Căn cứ theo phân cấp và địa bàn xây dựng, căn cứ địa cách mạng được phân loại như sau: Theo phân cấp, căn cứ địa cách mạng có căn cứ địa của Trung ương, của địa phương và của cơ sở. Theo địa hình xây dựng, căn cứ địa cách mạng có căn cứ địa ở đồng bằng, ở rừng núi, ở đô thị, ở sông rạch và căn cứ địa ở vùng sau lưng địch (tức căn cứ lõm) [8, tr.
Như vậy có thể thấy, căn cứ lõm là một loại hình của căn cứ địa cách mạng ở vùng sau lưng địch (hay vùng địch tạm chiếm). Với quan điểm xem xét đối tượng nghiên cứu căn cứ lõm là một loại hình đặc biệt của căn cứ địa cách mạng, chúng ta có thể đi đến khái niệm: “Căn cứ lõm là căn cứ của lực lượng kháng chiến nằm sâu trong vùng địch tạm chiếm trong kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ; xuất hiện trong chiến tranh nhân dân Việt Nam để đấu tranh chống địch có hiệu quả. Căn cứ lõm thường có quy mô không lớn nhưng chiếm giữ vị trí xung yếu mà lực lượng kháng chiến dựa vào đó để xây dựng và phát triển lực lượng phục vụ cho đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang trong vùng địch hậu” [9, tr. Các điều kiện hình thành căn cứ lõm cách mạng Về điều kiện hình thành căn cứ địa cách mạng, theo Hồ Chí Minh, muốn xây dựng căn cứ địa phải có nhân hòa, địa lợi và thiên thời, có địa thế hiểm yếu và quần chúng cảm tình ủng hộ; có thể phát triển thành căn cứ địa vững vàng; phải tiến tới xây dựng được chính quyền cách mạng.
Trên cơ sở phân tích tầm quan trọng, ý nghĩa của từng yếu tố của các nhân tố thiên - địa - nhân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Trong hai phe giao chiến, phe nào có đầy đủ điều kiện nhân hòa là phe ấy thắng. Chỉ phe nào vì chính nghĩa mà chiến đấu, phe ấy mới có đủ điều kiện nhân hòa” [33, tr. Điều đó có nghĩa là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa yếu tố “nhân hòa” lên hàng đầu và là nhân tố quyết định đến sự thành bại của cả sự nghiệp cách mạng. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, khái niệm “thiên thời” cũng không chỉ bó hẹp trong phạm vi điều kiện thời tiết, nắng mưa đơn thuần mà còn là thời gian, là điều kiện hành động phù hợp với thời cơ, thời cuộc, với xu thế của thời đại.
Nói rộng ra là phù hợp với quy luật vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội. Bên cạnh đó, yếu tố “thiên thời” còn là điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời điểm nhất định phục vụ cho việc xây dựng, duy trì và hoạt động của căn cứ địa cách mạng. Cùng với đó, khái niệm “địa lợi”, theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng không hẳn chỉ có núi cao, sông sâu, địa thế hiểm trở mà nơi đó còn gắn với yếu tố con người sinh ra, lớn lên và cư trú tại địa thế đó; chính những con người đó mới quy định cách đánh, cách hoạt động sao cho hiệu quả, phù hợp với đặc điểm địa hình, địa thế. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Từ hang cùng, ngõ hẻm, núi sâu rừng rậm, đâu đâu cũng là nước Việt Nam, đâu đâu cũng có dân Việt Nam ở.
Quân địch tiến đến chỗ nào, không thuộc địa hình, địa vật bằng dân quân Việt Nam ở chỗ đó. Chúng sẽ bị đánh úp bất ngờ” [33, tr. Theo đồng chí Trường Chinh, căn cứ địa cần có các điều kiện: (1) Điều kiện địa lý: Địa thế hiểm trở có thể che chở cho bộ đội: trong khi bộ đội phòng ngự hay rút lui, quân địch không thể tiến đánh một cách dễ dàng; (2) Điều kiện quân sự: Vị trí tiện cho việc tiến công quân địch, không xa những chỗ nhất định quân địch phải đóng giữ hoặc qua lại; (3) Điều kiện kinh tế: Thổ sản có thể cung cấp cho bộ đội sống, mặc dù quân địch vây hãm; (4) Điều kiện chính trị: Tổ chức cách mạng trong quần chúng khá mạnh, có thể giúp đỡ bộ đội về mọi mặt [8, tr. Tổng hòa những yếu tố, điều kiện trên, căn cứ địa cách mạng ở Việt Nam được xây dựng khi đảm bảo các điều kiện sau: có cơ sở chính trị và chính quyền cách mạng vững chắc; vũ trang toàn dân và xây dựng lực lượng cách mạng; kinh tế đáp ứng nhu cầu xây dựng, phát triển lực lượng cách mạng và nuôi quân đánh giặc; địa thế hiểm trở thuận lợi cho cả tiến công và phòng ngự [8, tr.
Thực tiễn phong trào đấu tranh cách mạng ở miền Nam nói chung, Quảng Nam nói riêng cho thấy, để hình thành căn cứ lõm - địa bàn được lựa chọn cần đáp ứng những điều kiện cụ thể, đó là: Thứ nhất, xây dựng được cấp ủy đảng cơ sở vững mạnh, đội ngũ đảng viên phải có quyết tâm đánh địch cao, tiên phong, gương mẫu lãnh đạo quần chúng trong mọi mặt xây dựng và chiến đấu. Thứ hai, nhân dân trên địa bàn phải thuần khiết, tuyệt đối ủng hộ cách mạng, quần chúng phải được tổ chức vào các đoàn thể, hình thành đội ngũ đấu tranh chặt chẽ; lực lượng nòng cốt trong quần chúng sẵn sàng chịu đựng gian khổ, hy sinh để bảo vệ cán bộ, bảo vệ lực lượng cách mạng. Thứ ba, xây dựng được lực lượng vũ trang (du kích mật, còn gọi là du kích B) vững mạnh, chất lượng vững, chiến đấu giỏi để làm nòng cốt trong chiến đấu và đấu tranh. Thứ tư, phải xây dựng được hệ thống địa đạo, công sự vững chắc để phục vụ cho việc trú quân, bảo đảm bí mật cho cán bộ, du kích hoạt động [7, tr.
Tuy vậy, trong thực tế vẫn có những căn cứ lõm chỉ đáp ứng được một hay một số điều kiện trên nhưng do yêu cầu cấp thiết của cách mạng, tổ chức đảng vẫn quyết định xây dựng thành căn cứ lõm để có điều kiện đứng chân, xây dựng phong trào, từng bước củng cố căn cứ lõm. Những nhân tố tác động đến quá trình xây dựng và hoạt động của căn cứ lõm cách mạng ở Quảng Nam (1965-1975) 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Về điều kiện tự nhiên, Quảng Nam là tỉnh thuộc khu vực duyên hải Nam Trung Bộ, nằm ở trung độ của đất nước. Phía bắc giáp thành phố Đà Nẵng, phía nam giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía tây giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và tỉnh Kon Tum, phía đông giáp biển Đông.
Địa hình tỉnh Quảng Nam phân chia thành ba vùng rõ rệt. Vùng rừng núi chiếm ¾ diện tích đất tự nhiên, phân bố chủ yếu ở phía tây và tây nam, địa hình phức tạp, độ chia cắt mạnh, hướng dốc từ tây sang đông. Vùng trung du tiếp giáp với vùng rừng núi, có nhiều đồi núi thấp và gò đồi xen kẻ với ruộng vườn. Vùng đồng bằng ven biển tương đối hẹp, kéo dài từ giáp thành phố Đà Nẵng đến giáp tỉnh Quảng Ngãi.
Quảng Nam thuộc đới khí hậu nhiệt đới gió mùa. Nhiệt độ trung bình hằng năm khoảng 25,70C. Lượng mưa phân bố không đều giữa các vùng, trung bình khoảng 2.700mm ở đồng bằng, trung du, 5.000mm ở khu vực miền núi. Mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 12.
Hệ thống sông ngòi ở Quảng Nam khá chằng chịt, có độ dốc lớn do bắt nguồn từ núi cao đổ ra biển nên vừa tạo thế chia cắt phức tạp trong nội địa giữa vùng này với vùng khác bởi các con sông, lại vừa tạo thế liên hoàn giữa miền núi và đồng bằng. Các hệ thống sông lớn là Thu Bồn, Vu Gia, Trường Giang… Từ vị trí địa lý, đặc điểm địa hình như trên đã hình thành ba vùng chiến lược trên địa bàn tỉnh hình thành khá rõ rệt: Vùng rừng núi, là địa bàn cư trú lâu đời của các dân tộc thiểu số: Cơtu, Gié - Triêng, Xêđăng, Cor. Đồng bào các dân tộc thiểu số nơi đây giàu lòng yêu nước và tình cảm gắn bó son sắt với Đảng, với Bác Hồ. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, rừng núi Quảng Nam có độ che phủ cao, là nơi được lựa chọn để xây dựng căn cứ địa cách mạng của Liên khu ủy Khu 5, Khu ủy Khu 5, Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Tỉnh ủy Quảng Nam, Quảng Đà, Đặc khu ủy Quảng Đà.
Đây còn là tuyến hành lang quan trọng trên tuyến đường Trường Sơn, là đầu mối tiếp nhận nguồn chi viện từ miền Bắc. Đây cũng là nơi đứng chân củng cố, xây dựng phát triển lực lượng, tích lũy vật chất, vũ khí, phương tiện chiến tranh khi phong trào cách mạng gặp khó khăn, là nơi xuất phát các cuộc tiến công của lực lượng vũ trang xuống đồng bằng, vào các đô thị khi thời cơ đến. Vùng đồng bằng, có đất đai khá phì nhiêu, được bồi đắp phù sa từ sông Thu Bồn, sông Vu Gia và các con sông khác trong tỉnh. Đây là vùng đông dân, hình thành các làng xã, mang nét đặc trưng của văn hóa làng, nhất là tính cố kết cộng đồng cao.
Dân cư chủ yếu sống bằng nghề nông và nghề làm biển, kinh tế tương đối phát triển, có nguồn nhân lực, vật lực dồi dào để cung cấp cho nhu cầu chiến tranh. Vì vậy, đây là địa bàn địch rất quan tâm bình định để khai thác, về phía ta đây là địa bàn thuận lợi để xây dựng thực lực cách mạng, phát động đấu tranh vũ trang, đấu tranh chính trị, binh địch vận, phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân. Đồng bằng ven đô thị chính là bàn đạp, tạo thế uy hiếp thường xuyên các đô thị.