Luận Văn: Căn Cứ Lõm Cách Mạng ở Quảng Nam (1965-1975) - Lê Minh Chiến

Khám phá căn cứ lõm cách mạng Quảng Nam trong kháng chiến chống Mỹ (1965-1975). Tìm hiểu về vai trò, tầm quan trọng lịch sử qua phần 1 của bài viết.

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

118
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

TRANG THÔNG TIN LUẬN VĂN THẠC SĨ

INFORMATION OF RESEARCH RESULTS OF THE THESIS

MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Lịch sử nghiên cứu đề tài

Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Đóng góp của luận văn

Bố cục luận văn

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CĂN CỨ LÕM CÁCH MẠNG Ở QUẢNG NAM TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƢỚC (1965-1975)

1.1. Cơ sở lý luận về căn cứ lõm cách mạng

1.1.1. Khái niệm về căn cứ lõm cách mạng

1.1.2. Các điều kiện hình thành căn cứ lõm cách mạng

1.2. Những nhân tố tác động đến quá trình xây dựng và hoạt động của căn cứ lõm cách mạng ở Quảng Nam (1965-1975)

1.2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

1.2.2. Truyền thống đấu tranh yêu nước và cách mạng của nhân dân Quảng Nam trước năm 1965

1.2.3. Một số kinh nghiệm xây dựng căn cứ lõm cách mạng của tỉnh Quảng Nam trong những năm 1945-1965

1.3. Tiểu kết Chương 1

2. CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CĂN CỨ LÕM CÁCH MẠNG Ở QUẢNG NAM TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƢỚC (1965-1975)

2.1. Âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ và chính quyền Việt Nam cộng hòa

2.2. Chủ trương của Trung ương Đảng, Khu ủy Khu 5 và Tỉnh ủy Quảng Nam về xây dựng căn cứ lõm cách mạng

2.3. Quá trình xây dựng các căn cứ lõm trên địa bàn tỉnh Quảng Nam (1965-1975)

2.3.1. Quá trình xây dựng căn cứ lõm trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong thời kỳ đấu tranh chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ” (1965-1968)

2.3.2. Quá trình xây dựng căn cứ lõm trong thời kỳ chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, chống bình định, lấn chiếm (1969-1975)

2.4. Quá trình hoạt động của các căn cứ lõm cách mạng ở Quảng Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1965-1975)

2.4.1. Hoạt động xây dựng cơ sở, nuôi giấu cán bộ trong lòng địch

2.4.2. Phong trào đấu tranh vũ trang tại các căn cứ lõm

2.4.3. Phong trào đấu tranh chính trị, binh địch vận tại các căn cứ lõm

2.4.4. Hoạt động thu mua lương thực, thực phẩm phục vụ cho kháng chiến

2.5. Tiểu kết Chương 2

3. CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ, BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ XÂY DỰNG CĂN CỨ LÕM CÁCH MẠNG Ở TỈNH QUẢNG NAM

3.1. Một số đặc điểm của căn cứ lõm cách mạng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

3.1.1. Căn cứ lõm ở địa bàn Quảng Nam có quy mô nhỏ, nằm ở những địa bàn chiến lược quan trọng ở vùng địch tạm chiếm, vùng tranh chấp giữa ta và địch

3.1.2. Căn cứ lõm phát triển từ hình thái “lõm chính trị” đến “lõm du kích” phù hợp với nhu cầu phát triển của cuộc kháng chiến

3.1.3. Căn cứ lõm ở Quảng Nam được bảo đảm an toàn, gắn với lòng trung thành, niềm tin tuyệt đối của nhân dân đối với Đảng, với cách mạng

3.2. Vai trò của căn cứ lõm trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

3.2.1. Căn cứ lõm là nơi đứng chân, hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng của các cấp ủy đảng, của các đồng chí lãnh đạo cấp ủy, các lực lượng cách mạng

3.2.2. Căn cứ lõm là nơi tập kết, là bàn đạp để các lực lượng vũ trang cách mạng tiến công địch ngay trong vùng địch kiểm soát

3.2.3. Căn cứ lõm là nơi động viên sự đóng góp sức người, sức của của nhân dân cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

3.3. Bài học kinh nghiệm về xây dựng và hoạt động của căn cứ lõm

3.3.1. Quán triệt và vận dụng sáng tạo chủ trương, đường lối của Đảng trong xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò của căn cứ lõm

3.3.2. Xây dựng và phát huy vai trò của các tổ chức đảng và lực lượng vũ trang trong xây dựng và bảo vệ căn cứ lõm

3.3.3. Xây dựng khối đoàn kết toàn dân, thế trận “lòng dân” vững chắc là nhân tố quyết định đến sự hình thành và hoạt động của căn cứ lõm

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH SÁCH NHÂN CHỨNG CUNG CẤP TƢ LIỆU

PHỤ LỤC HÌNH ẢNH

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (Bản sao)

Tóm tắt

I. Tổng Quan Căn Cứ Lõm Quảng Nam Kháng Chiến Chống Mỹ

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1965-1975), Quảng Nam giữ một vị trí chiến lược quan trọng. Sự can thiệp trực tiếp của quân đội Mỹ đã làm thay đổi cục diện chiến trường, đòi hỏi những phương thức tác chiến linh hoạt và sáng tạo. Một trong những giải pháp hiệu quả mà Tỉnh ủy Quảng Nam đưa ra là xây dựng các căn cứ lõm cách mạng ngay trong vùng địch tạm chiếm. Đây không chỉ là nơi đứng chân của lực lượng cách mạng mà còn là bàn đạp để tiến công địch, đồng thời là biểu tượng cho tinh thần kiên cường và sức mạnh của chiến tranh nhân dân. Các căn cứ lõm này được hình thành dựa trên sự ủng hộ của quần chúng, địa hình hiểm trở và hệ thống hầm bí mật chằng chịt, tạo thành một mạng lưới vững chắc trong lòng địch. Theo Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, căn cứ địa cách mạng là vùng tương đối an toàn, nơi đứng chân và là chỗ dựa của cách mạng để tích lũy, xây dựng, phát triển lực lượng chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội… phục vụ cho khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng [8, tr. Điều này khẳng định vai trò then chốt của các căn cứ trong sự nghiệp kháng chiến. Hơn nữa, việc xây dựng căn cứ lõm thể hiện sự vận dụng sáng tạo đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, phù hợp với điều kiện cụ thể của Quảng Nam. Luận văn của Lê Minh Chiến về Căn cứ lõm cách mạng ở tỉnh Quảng Nam trong kháng chiến chống Mỹ (1965-1975) là một công trình nghiên cứu chuyên sâu, cung cấp cái nhìn toàn diện về quá trình hình thành, hoạt động và vai trò của căn cứ lõm trong cuộc kháng chiến. Công trình này đã đi sâu phân tích, làm rõ khái niệm căn cứ lõm cách mạng, các điều kiện hình thành căn cứ lõm cách mạng; các nhân tố tác động trực tiếp đến quá trình xây dựng, phát triển các căn cứ lõm cách mạng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1965-1975). Từ các nguồn tư liệu lưu trữ, tư liệu điền dã và lời kể của các nhân chứng lịch sử, đề tài đã phản ánh khách quan, trung thực quá trình xây dựng, phát triển và hoạt động chủ yếu của các căn cứ lõm cách mạng trên các mặt công tác: xây dựng cơ sở chính trị, nuôi giấu cán bộ, lực lượng cách mạng; tổ chức đấu tranh chính trị, binh vận và đấu tranh vũ trang; hoạt động thu mua lương thực, thực phẩm phục vụ cho công cuộc kháng chiến.

1.1. Khái Niệm và Điều Kiện Hình Thành Căn Cứ Lõm

Căn cứ lõm là một loại hình đặc biệt của căn cứ địa cách mạng, tồn tại và hoạt động trong vùng địch tạm chiếm. Để hình thành căn cứ lõm, cần đáp ứng các điều kiện về chính trị, quân sự, kinh tế và xã hội. Quan trọng nhất là sự ủng hộ tuyệt đối của nhân dân, xây dựng được cấp ủy đảng cơ sở vững mạnh và lực lượng vũ trang tại chỗ đủ sức đối phó với các cuộc càn quét của địch. Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh tầm quan trọng của yếu tố “nhân hòa” trong xây dựng căn cứ địa. Căn cứ vào tình hình thực tế, các cấp ủy đảng quyết định xây dựng thành căn cứ lõm để có điều kiện đứng chân, xây dựng phong trào, từng bước củng cố căn cứ lõm.

1.2. Tầm Quan Trọng của Căn Cứ Lõm trong Chiến Tranh Nhân Dân

Các căn cứ lõm đóng vai trò then chốt trong việc duy trì và phát triển phong trào cách mạng tại địa phương. Căn cứ lõm phát huy hiệu quả vai trò là nơi đứng chân, hoạt động của các lực lượng cách mạng, là bàn đạp để các lực lượng vũ trang cách mạng tiến công, tiêu diệt địch, là nơi động viên sự đóng góp sức người, sức của của các tầng lớp nhân dân cho sự nghiệp kháng chiến. Đặc biệt, quá trình xây dựng, bảo vệ, duy trì hoạt động của các căn cứ lõm cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, có giá trị thực tiễn sâu sắc đối với công tác xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân trong tình hình mới. Hơn nữa, căn cứ lõm là nơi trú ẩn an toàn cho cán bộ, chiến sĩ, là đầu mối liên lạc giữa vùng giải phóng và vùng địch tạm chiếm, đồng thời là nơi cung cấp lương thực, vũ khí và thông tin tình báo cho lực lượng cách mạng.

II. Thách Thức Xây Dựng Căn Cứ Lõm Giai Đoạn 1965 1968

Giai đoạn 1965-1968 đánh dấu sự leo thang chiến tranh của đế quốc Mỹ tại Việt Nam. Việc triển khai chiến lược "Chiến tranh cục bộ" với những cuộc càn quét quy mô lớn đã gây ra nhiều khó khăn cho phong trào cách mạng, đặc biệt là trong việc xây dựng và bảo vệ các căn cứ lõm. Để đối phó với âm mưu, thủ đoạn trên, Tỉnh ủy Quảng Nam-Đà Nẵng chủ trương phát động phong trào nhân dân du kích chiến tranh chống địch càn quét, chống dồn dân, lập tề, từng bước đánh bại âm mưu “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của thực dân Pháp. Tỉnh ủy Quảng Nam-Đà Nẵng chủ trương “lập ban căn cứ địa ở cấp tỉnh do đồng chí cấp ủy phụ trách, gồm đại diện của Ủy ban Kháng chiến hành chính, dân quân, bộ đội để định kế hoạch đôn đốc xúc tiến việc kiến thiết căn cứ địa”[38, tr. Chính quyền Sài Gòn thi hành các chính sách "tố cộng", "diệt cộng" một cách tàn bạo, khiến nhiều cơ sở cách mạng bị phá vỡ và lực lượng bị tổn thất. Mặc dù vậy, với tinh thần kiên trung, các cán bộ, đảng viên và nhân dân Quảng Nam vẫn quyết tâm bám trụ, xây dựng cơ sở, hình thành các căn cứ lõm bí mật ngay trong vùng địch kiểm soát. Đối với vùng tạm bị chiếm, phải “gây dựng căn cứ ở hậu phương địch xung quanh các vị trí của địch, nắm chắc quần chúng, xây dựng cơ sở vững chắc trong quần chúng”[38, tr. Các chiến sĩ cách mạng phải đối mặt với tình trạng thiếu thốn lương thực, thuốc men, vũ khí và thường xuyên bị địch truy lùng, phục kích. Hoạt động gián điệp, tâm lý, chiến tranh chiêu hồi cũng được tăng cường song song với hoạt động phi pháo, càn quét nhằm phục vụ cho âm mưu lấn chiếm, bình định của chúng.

2.1. Âm Mưu và Thủ Đoạn của Địch tại Quảng Nam

Quân Mỹ và quân đội Sài Gòn liên tục mở các cuộc càn quét, lùng sục, đốt phá, cướp bóc, bao vây phong tỏa kinh tế các vùng giải phóng. Các hoạt động tình báo, gián điệp, chiêu hồi cũng được đẩy mạnh nhằm làm suy yếu lực lượng cách mạng. Căn cứ Chu Lai được xây dựng thành một căn cứ quân sự lớn nhất miền Trung, tạo thành bàn đạp để mở rộng chiến tranh xâm lược. Được sự hà hơi, tiếp sức của quân Mỹ, quân đội Sài Gòn gượng dậy tổ chức càn quét, lấn chiếm các khu vực xung quanh thị xã Tam Kỳ, quận lỵ Hà lam, Quế Sơn, Tiên Phước, dọc các tuyến quốc lộ 1 nối với căn cứ Chu Lai để củng cố thế phòng thủ của chúng, đối phó với các hoạt động của ta.

2.2. Khó Khăn và Thách Thức trong Giai Đoạn Đầu

Việc xây dựng và bảo vệ căn cứ lõm trong giai đoạn này gặp rất nhiều khó khăn do sự kiểm soát gắt gao của địch, địa bàn hoạt động bị thu hẹp và thiếu thốn về mọi mặt. Các chiến sĩ cách mạng phải đối mặt với tình trạng thiếu thốn lương thực, thuốc men, vũ khí và thường xuyên bị địch truy lùng, phục kích. Mặc khác chúng bắt bớ, đốt phá ghe thuyền không cho nhân dân ta làm biển (Thăng Bình, Tam Kỳ, Nam Tam Kỳ). Hoạt động gián điệp, tâm lý, chiến tranh chiêu hồi cũng được tăng cường song song với hoạt động phi pháo, càn quét nhằm phục vụ cho âm mưu lấn chiếm, bình định của chúng. Nhiều nhân viên CIA được cài cắm, hoạt động sâu trong vùng giải phóng.

III. Cách Quảng Nam Xây Dựng Căn Cứ Lõm 1965 1968

Để vượt qua những khó khăn, thách thức, Tỉnh ủy Quảng Nam đã đề ra những chủ trương, biện pháp cụ thể nhằm tăng cường xây dựng các căn cứ lõm. Tỉnh ủy Quảng Nam, Thị ủy Tam Kỳ, một mặt là ra sức xây dựng thực lực cách mạng ở địa bàn thị xã, thị trấn; gấp rút tăng cường lực lượng vũ trang, đồng thời tích cực xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng thành đội ngũ vững mạnh. Tích cực xây dựng bàn đạp vững mạnh sát thị xã, thị trấn, đồng thời đẩy mạnh hoạt động vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị, binh vận bao vây, uy hiếp địch, diệt ác ôn, làm lõng thế kèm kẹp, tạo điều kiện khởi nghĩa quận lỵ, thị trấn và tích cực chuẩn bị cho khởi nghĩa thị xã. Tăng cường xây dựng giao thông liên lạc để đảo bảo sự chỉ đạo thông suốt, nhanh chóng trong mọi trường hợp. Tỉnh ủy chỉ đạo các cấp ủy đảng tiếp tục phát huy thắng lợi trong cao trào đồng khởi giải phóng nông thôn, đồng bằng cuối năm 1964, đầu năm 1965, tập trung xây dựng làng xã chiến đấu, biến các xã đã được giải phóng thành các căn cứ lõm cách mạng để phục vụ cho các hoạt động vũ trang đánh địch trên vành đai diệt Mỹ Chu Lai.

3.1. Tăng Cường Cơ Sở Chính Trị và Phát Triển Đảng Viên

Các cấp ủy đảng tập trung xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, phát triển đảng viên, thành lập các đoàn thể quần chúng. Các chi bộ đảng được củng cố, phát huy vai trò lãnh đạo trong việc vận động quần chúng tham gia các hoạt động cách mạng. Trên địa bàn thị xã Tam Kỳ, cán bộ, chiến sĩ của thị xã Tam Kỳ hoạt động trong điều kiện không có vùng giải phóng trực thuộc, chỉ có dân trụ bám ngay trong lòng địch, các lực lượng của thị xã phải đứng chân ở các xã Kỳ Yên, Kỳ Trà của huyện Nam Tam Kỳ; các xã Kỳ Quế, Kỳ Nghĩa, Kỳ Thịnh, Kỳ Phước của huyện Bắc Tam Kỳ cách xa các mục tiêu trong thị xã hàng chục kilômét.

3.2. Xây Dựng Lực Lượng Vũ Trang và Hệ Thống Hầm Bí Mật

Lực lượng vũ trang địa phương được xây dựng, củng cố, trang bị vũ khí để bảo vệ căn cứ lõm và tiến hành các hoạt động tác chiến. Hệ thống hầm bí mật, địa đạo được đào sâu, mở rộng để làm nơi trú ẩn, cất giấu vũ khí, lương thực và làm đường giao thông liên lạc. Ở các xã Kỳ Xuân, Kỳ Hòa, Kỳ Vinh được lựa chọn xây dựng căn cứ lõm, bên cạnh yếu tố về vị trí địa lý thì các xã này còn có những điều kiện thuận lợi nhất định về yếu tố con người, chính trị, quân sự. Huyện ủy Nam Tam Kỳ quyết định thiết lập căn cứ bàn đạp ở vùng ven; đẩy mạnh xây dựng hệ thống các căn cứ lõm trong vùng địch kiểm soát ở các xã Kỳ Xuân, Kỳ Hòa, Kỳ Vinh đồng thời mở hành lang cơ động từ căn cứ phía sau xuống căn cứ bàn đạp và căn cứ lõm để cất giấu lực lượng, vũ khí trang bị, chuẩn bị cho hoạt động của lực lượng vũ trang tiến công vào các mục tiêu trong căn cứ quân sự Chu Lai, cảng Kỳ Hà.

IV. Điển Hình Căn Cứ Lõm Phương Hòa Tam Ngọc Hòa Hương

Trong giai đoạn 1965-1968, một số căn cứ lõm tiêu biểu đã được xây dựng trên địa bàn Quảng Nam, điển hình là Phương Hòa, Hòa HươngTam Ngọc. Các địa bàn được lựa chọn xây dựng căn cứ lõm trên địa bàn thị xã Tam Kỳ đều có vị trí chiến lược quan trọng, là cửa ngõ xâm nhập vào nội ô thị xã Tam Kỳ, lại gần với vùng giải phóng các huyện Bắc Tam Kỳ, Nam Tam Kỳ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thông tin liên lạc về căn cứ lõm và ngược lại. Đặc biệt, nhân dân các vùng căn cứ lõm đều có truyền thống yêu nước và cách mạng, được thử thách qua các giai đoạn cách mạng, nhất là kinh nghiệm hoạt động bí mật, đấu tranh “hai chân, ba mũi giáp công” trong giai đoạn 1954-1964. Từ sau phong trào đồng khởi nông thôn, đồng bằng, các địa phương này đều đã xây dựng được chi bộ, các đội công tác, du kích mật, các đoàn thể cách mạng.

4.1. Căn Cứ Lõm Phương Hòa Thà Hy Sinh Quyết Tâm Thắng Mỹ

Tại đây, các chi bộ Đảng được thành lập, hệ thống hầm bí mật được xây dựng và nhiều cơ sở cách mạng được phát triển. ấp trưởng Trần Văn Hương, ấp phó phụ trách an ninh Nguyễn Văn Quyến đều là đảng viên cộng sản. Tiểu đội thanh niên chiến đấu của địch đều là cơ sở cách mạng được ta cài cắm vào và từng bước xây dựng thành đội du kích . Tiêu biểu như bà Nguyễn Thị Chánh làm giao liên từ Phương Hòa lên vùng giải phóng; bà Nguyễn Thị Thi làm giao liên từ vùng giải phóng xuống vùng địch nhiều năm liền không bị phát hiện. Tên Lê Văn Võ chiêu hồi đã chỉ điểm và gây ra nhiều thiệt hại. Điều này thể hiện tinh thần kiên cường, bất khuất của quân và dân ta.

4.2. Căn Cứ Lõm Hòa Hương Chi Bộ Đảng Hoạt Động Liên Tục

Hòa Hương là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng, gần vùng giải phóng và có đường sông thuận lợi cho việc di chuyển. Các chi bộ Đảng, tổ công tác, chi đoàn thanh niên được xây dựng và hoạt động hiệu quả.Nhiều gia đình đã vượt qua khó khăn, gian khổ, hy sinh mất mát để hoạt động trong lòng địch, để đấu tranh với địch, xây dựng cơ sở, phát triển Đảng, làm liên lạc, bảo vệ cán bộ lãnh đạo cấp trên ngay trong nhà để chỉ đạo phong trào như: gia đình đồng chí Nguyễn Thị Kiểm, ông Vũ Liễn, bà Khâm, bà Lê Thị Hồng, bà Nguyễn Thị Huệ,… Những gia đình này bất chấp hiểm nguy, nuôi nấng, che giấu và đưa đón cán bộ.

4.3. Căn Cứ Lõm Tam Ngọc Mỗi Nhà Dân Là Pháo Đài Chống Giặc

Tam Ngọc được xây dựng thành một căn cứ lõm, đảm bảo sự chỉ đạo của Chi bộ, của Ban Cán sự thị xã cũng như của Thị ủy sau này trong trạng thái bình thường cũng như khi có các chiến dịch lớn, lôi kéo quần chúng về với cách mạng, khi có điều kiện phối hợp với lực lượng bên ngoài nổi dậy giành thắng lợi. Địa bàn xã Tam Ngọc được xây dựng thành căn cứ lõm, đảm bảo sự chỉ đạo của Chi bộ, của Ban Cán sự thị xã cũng như của Thị ủy sau này trong trạng thái bình thường cũng như khi có các chiến dịch lớn, lôi kéo quần chúng về với cách mạng, khi có điều kiện phối hợp với lực lượng bên ngoài nổi dậy giành thắng lợi Các cơ sở cách mạng trong xã đã “xây dựng được 43 hầm bí mật ở nhiều vị trí khác nhau, đảm bảo hoạt động xuyên suốt cho các đường dây liên lạc, cho tổ công tác, đội du kích hoạt động.

V. Bài Học Từ Căn Cứ Lõm Giá Trị Cho Tương Lai

Sự thành công của các căn cứ lõm trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước không chỉ là kết quả của những nỗ lực quân sự mà còn là minh chứng cho sức mạnh của tinh thần đoàn kết, lòng yêu nước và ý chí kiên cường của nhân dân Quảng Nam. Qua thực tiễn xây dựng căn cứ lõm đã mang lại rất nhiều bài học kinh nghiệm như: phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, dựa vào sức mạnh của nhân dân. Những bài học kinh nghiệm này vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, đặc biệt trong việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân.

5.1. Phát Huy Vai Trò Lãnh Đạo của Đảng và Quần Chúng Nhân Dân

Sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng là yếu tố then chốt quyết định sự thành công của các căn cứ lõm. Đồng thời, việc phát huy vai trò của quần chúng nhân dân, dựa vào sức mạnh của toàn dân là yếu tố quan trọng để xây dựng và bảo vệ căn cứ. Nhờ đó, ta đã bí mật xây dựng được nhiều cơ sở, hình thành được các tổ chức cách mạng nằm ngay trong lòng địch như: chi bộ Đảng, tổ công tác, chi đoàn thanh niên, du kích mật. Đây là lực lượng nòng cốt ủng hộ, giúp đỡ cách mạng nuôi giấu cán bộ và lực lượng vũ trang. Các cơ sở ta cài cắm ngay trong lực lượng quân sự, chính quyền địa phương của địch từng bước mở rộng hoạt động vào nội ô và tổ chức những trận đánh vào cơ quan đầu não của địch, làm cho địch hoang mang, dao động, tạo niềm tin cho quần chúng nhân dân, tạo thế và lực để cách mạng tiếp tục hoạt động lâu dài trong những năm tiếp theo.

5.2. Vận Dụng Sáng Tạo Các Hình Thức Đấu Tranh

Việc vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức đấu tranh chính trị, quân sự, binh vận, kết hợp với các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội đã tạo nên sức mạnh tổng hợp để đánh bại kẻ thù. Đối với địa bàn thị xã, thị trấn, sau khi ta giải phóng đại bộ phận nông thôn, đồng bằng, địch dồn bọn địa phương quân và tề, điệp lưu vong ở các nơi về thị xã, các quận lỵ để củng cố lại thế kèm kẹp, hình thành hệ thống phòng thủ bảo vệ các cơquan đầu não của chúng.

27/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Những nhân tố tác động đến quá trình xây dựng và hoạt động của các căn cứ lõm cách mạng ở Quảng Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1965- 1975). Chương 2: Quá trình xây dựng và hoạt động của các căn cứ lõm cách mạng ở Quảng Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1965-1975). Chương 3: Đặc điểm, vai trò, bài học kinh nghiệm về xây dựng căn cứ lõm cách mạng ở Quảng Nam. CHƢƠNG 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CĂN CỨ LÕM CÁCH MẠNG Ở QUẢNG NAM TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƢỚC (1965-1975) 1.

Cơ sở lý luận về căn cứ lõm cách mạng 1. Khái niệm về căn cứ lõm cách mạng Theo Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, “căn cứ địa cách mạng là vùng tương đối an toàn, nơi đứng chân và là chỗ dựa của cách mạng để tích lũy, xây dựng, phát triển lực lượng chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội… phục vụ cho khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng” [8, tr. Căn cứ theo phân cấp và địa bàn xây dựng, căn cứ địa cách mạng được phân loại như sau: Theo phân cấp, căn cứ địa cách mạng có căn cứ địa của Trung ương, của địa phương và của cơ sở. Theo địa hình xây dựng, căn cứ địa cách mạng có căn cứ địa ở đồng bằng, ở rừng núi, ở đô thị, ở sông rạch và căn cứ địa ở vùng sau lưng địch (tức căn cứ lõm) [8, tr.

Như vậy có thể thấy, căn cứ lõm là một loại hình của căn cứ địa cách mạng ở vùng sau lưng địch (hay vùng địch tạm chiếm). Với quan điểm xem xét đối tượng nghiên cứu căn cứ lõm là một loại hình đặc biệt của căn cứ địa cách mạng, chúng ta có thể đi đến khái niệm: “Căn cứ lõm là căn cứ của lực lượng kháng chiến nằm sâu trong vùng địch tạm chiếm trong kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ; xuất hiện trong chiến tranh nhân dân Việt Nam để đấu tranh chống địch có hiệu quả. Căn cứ lõm thường có quy mô không lớn nhưng chiếm giữ vị trí xung yếu mà lực lượng kháng chiến dựa vào đó để xây dựng và phát triển lực lượng phục vụ cho đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang trong vùng địch hậu” [9, tr. Các điều kiện hình thành căn cứ lõm cách mạng Về điều kiện hình thành căn cứ địa cách mạng, theo Hồ Chí Minh, muốn xây dựng căn cứ địa phải có nhân hòa, địa lợi và thiên thời, có địa thế hiểm yếu và quần chúng cảm tình ủng hộ; có thể phát triển thành căn cứ địa vững vàng; phải tiến tới xây dựng được chính quyền cách mạng.

Trên cơ sở phân tích tầm quan trọng, ý nghĩa của từng yếu tố của các nhân tố thiên - địa - nhân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Trong hai phe giao chiến, phe nào có đầy đủ điều kiện nhân hòa là phe ấy thắng. Chỉ phe nào vì chính nghĩa mà chiến đấu, phe ấy mới có đủ điều kiện nhân hòa” [33, tr. Điều đó có nghĩa là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa yếu tố “nhân hòa” lên hàng đầu và là nhân tố quyết định đến sự thành bại của cả sự nghiệp cách mạng. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, khái niệm “thiên thời” cũng không chỉ bó hẹp trong phạm vi điều kiện thời tiết, nắng mưa đơn thuần mà còn là thời gian, là điều kiện hành động phù hợp với thời cơ, thời cuộc, với xu thế của thời đại.

Nói rộng ra là phù hợp với quy luật vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội. Bên cạnh đó, yếu tố “thiên thời” còn là điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời điểm nhất định phục vụ cho việc xây dựng, duy trì và hoạt động của căn cứ địa cách mạng. Cùng với đó, khái niệm “địa lợi”, theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng không hẳn chỉ có núi cao, sông sâu, địa thế hiểm trở mà nơi đó còn gắn với yếu tố con người sinh ra, lớn lên và cư trú tại địa thế đó; chính những con người đó mới quy định cách đánh, cách hoạt động sao cho hiệu quả, phù hợp với đặc điểm địa hình, địa thế. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Từ hang cùng, ngõ hẻm, núi sâu rừng rậm, đâu đâu cũng là nước Việt Nam, đâu đâu cũng có dân Việt Nam ở.

Quân địch tiến đến chỗ nào, không thuộc địa hình, địa vật bằng dân quân Việt Nam ở chỗ đó. Chúng sẽ bị đánh úp bất ngờ” [33, tr. Theo đồng chí Trường Chinh, căn cứ địa cần có các điều kiện: (1) Điều kiện địa lý: Địa thế hiểm trở có thể che chở cho bộ đội: trong khi bộ đội phòng ngự hay rút lui, quân địch không thể tiến đánh một cách dễ dàng; (2) Điều kiện quân sự: Vị trí tiện cho việc tiến công quân địch, không xa những chỗ nhất định quân địch phải đóng giữ hoặc qua lại; (3) Điều kiện kinh tế: Thổ sản có thể cung cấp cho bộ đội sống, mặc dù quân địch vây hãm; (4) Điều kiện chính trị: Tổ chức cách mạng trong quần chúng khá mạnh, có thể giúp đỡ bộ đội về mọi mặt [8, tr. Tổng hòa những yếu tố, điều kiện trên, căn cứ địa cách mạng ở Việt Nam được xây dựng khi đảm bảo các điều kiện sau: có cơ sở chính trị và chính quyền cách mạng vững chắc; vũ trang toàn dân và xây dựng lực lượng cách mạng; kinh tế đáp ứng nhu cầu xây dựng, phát triển lực lượng cách mạng và nuôi quân đánh giặc; địa thế hiểm trở thuận lợi cho cả tiến công và phòng ngự [8, tr.

Thực tiễn phong trào đấu tranh cách mạng ở miền Nam nói chung, Quảng Nam nói riêng cho thấy, để hình thành căn cứ lõm - địa bàn được lựa chọn cần đáp ứng những điều kiện cụ thể, đó là: Thứ nhất, xây dựng được cấp ủy đảng cơ sở vững mạnh, đội ngũ đảng viên phải có quyết tâm đánh địch cao, tiên phong, gương mẫu lãnh đạo quần chúng trong mọi mặt xây dựng và chiến đấu. Thứ hai, nhân dân trên địa bàn phải thuần khiết, tuyệt đối ủng hộ cách mạng, quần chúng phải được tổ chức vào các đoàn thể, hình thành đội ngũ đấu tranh chặt chẽ; lực lượng nòng cốt trong quần chúng sẵn sàng chịu đựng gian khổ, hy sinh để bảo vệ cán bộ, bảo vệ lực lượng cách mạng. Thứ ba, xây dựng được lực lượng vũ trang (du kích mật, còn gọi là du kích B) vững mạnh, chất lượng vững, chiến đấu giỏi để làm nòng cốt trong chiến đấu và đấu tranh. Thứ tư, phải xây dựng được hệ thống địa đạo, công sự vững chắc để phục vụ cho việc trú quân, bảo đảm bí mật cho cán bộ, du kích hoạt động [7, tr.

Tuy vậy, trong thực tế vẫn có những căn cứ lõm chỉ đáp ứng được một hay một số điều kiện trên nhưng do yêu cầu cấp thiết của cách mạng, tổ chức đảng vẫn quyết định xây dựng thành căn cứ lõm để có điều kiện đứng chân, xây dựng phong trào, từng bước củng cố căn cứ lõm. Những nhân tố tác động đến quá trình xây dựng và hoạt động của căn cứ lõm cách mạng ở Quảng Nam (1965-1975) 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Về điều kiện tự nhiên, Quảng Nam là tỉnh thuộc khu vực duyên hải Nam Trung Bộ, nằm ở trung độ của đất nước. Phía bắc giáp thành phố Đà Nẵng, phía nam giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía tây giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và tỉnh Kon Tum, phía đông giáp biển Đông.

Địa hình tỉnh Quảng Nam phân chia thành ba vùng rõ rệt. Vùng rừng núi chiếm ¾ diện tích đất tự nhiên, phân bố chủ yếu ở phía tây và tây nam, địa hình phức tạp, độ chia cắt mạnh, hướng dốc từ tây sang đông. Vùng trung du tiếp giáp với vùng rừng núi, có nhiều đồi núi thấp và gò đồi xen kẻ với ruộng vườn. Vùng đồng bằng ven biển tương đối hẹp, kéo dài từ giáp thành phố Đà Nẵng đến giáp tỉnh Quảng Ngãi.

Quảng Nam thuộc đới khí hậu nhiệt đới gió mùa. Nhiệt độ trung bình hằng năm khoảng 25,70C. Lượng mưa phân bố không đều giữa các vùng, trung bình khoảng 2.700mm ở đồng bằng, trung du, 5.000mm ở khu vực miền núi. Mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 12.

Hệ thống sông ngòi ở Quảng Nam khá chằng chịt, có độ dốc lớn do bắt nguồn từ núi cao đổ ra biển nên vừa tạo thế chia cắt phức tạp trong nội địa giữa vùng này với vùng khác bởi các con sông, lại vừa tạo thế liên hoàn giữa miền núi và đồng bằng. Các hệ thống sông lớn là Thu Bồn, Vu Gia, Trường Giang… Từ vị trí địa lý, đặc điểm địa hình như trên đã hình thành ba vùng chiến lược trên địa bàn tỉnh hình thành khá rõ rệt: Vùng rừng núi, là địa bàn cư trú lâu đời của các dân tộc thiểu số: Cơtu, Gié - Triêng, Xêđăng, Cor. Đồng bào các dân tộc thiểu số nơi đây giàu lòng yêu nước và tình cảm gắn bó son sắt với Đảng, với Bác Hồ. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, rừng núi Quảng Nam có độ che phủ cao, là nơi được lựa chọn để xây dựng căn cứ địa cách mạng của Liên khu ủy Khu 5, Khu ủy Khu 5, Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Tỉnh ủy Quảng Nam, Quảng Đà, Đặc khu ủy Quảng Đà.

Đây còn là tuyến hành lang quan trọng trên tuyến đường Trường Sơn, là đầu mối tiếp nhận nguồn chi viện từ miền Bắc. Đây cũng là nơi đứng chân củng cố, xây dựng phát triển lực lượng, tích lũy vật chất, vũ khí, phương tiện chiến tranh khi phong trào cách mạng gặp khó khăn, là nơi xuất phát các cuộc tiến công của lực lượng vũ trang xuống đồng bằng, vào các đô thị khi thời cơ đến. Vùng đồng bằng, có đất đai khá phì nhiêu, được bồi đắp phù sa từ sông Thu Bồn, sông Vu Gia và các con sông khác trong tỉnh. Đây là vùng đông dân, hình thành các làng xã, mang nét đặc trưng của văn hóa làng, nhất là tính cố kết cộng đồng cao.

Dân cư chủ yếu sống bằng nghề nông và nghề làm biển, kinh tế tương đối phát triển, có nguồn nhân lực, vật lực dồi dào để cung cấp cho nhu cầu chiến tranh. Vì vậy, đây là địa bàn địch rất quan tâm bình định để khai thác, về phía ta đây là địa bàn thuận lợi để xây dựng thực lực cách mạng, phát động đấu tranh vũ trang, đấu tranh chính trị, binh địch vận, phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân. Đồng bằng ven đô thị chính là bàn đạp, tạo thế uy hiếp thường xuyên các đô thị.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ