chương I) làm tiền đề cho công tác xét xử của các toà án, từ đó đúc kết kinh nghiệm thực tiễn cho sự ra đời cho quy định về 04 hành vi xâm phạm riêng tư đã nêu ở trên. Trong 04 hành vi xâm phạm riêng tư theo pháp luật Mỹ thì hành vi đầu tiên (Instrusion upon seclusion) và hành vi thứ ba - Hành vi công khai đời sống riêng tư (Publicity Given to Private Life) là dễ dàng nhận thấy nó đúng là sự xâm phạm vào không gian riêng, phù hợp với những quan niệm của Việt Nam. Tuy nhiên dạng hành vi thứ hai thì có vẻ giống với hành vi xâm phạm về hình ảnh, còn dạng hành vi thứ tư thì giống với hành vi xâm phạm về danh dự nhân phẩm. Như vậy có thể thấy, pháp luật Mỹ xây dựng, định hình các hành vi xâm phạm riêng tư thông qua hình thức (mặt khách quan) của hành vi mà hướng tới giá trị (khách thể) mà hành vi xâm hại.
Sử dụng 18 hình ảnh thì đối tượng tác động là hình ảnh, nhưng về bản chất là làm tổn thương tới đời sống tinh thần, sự riêng tư của cá nhân. Những vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ lợi ích công 1. Khái niệm lợi ích công Ở nhiều nền luật pháp, nơi đã có quy định về lợi ích công thì kinh nghiệm chung là phải xác định được: Bao nhiêu cá nhân của một cộng đồng được hưởng lợi từ một hành động thì hành động đó được coi là “vì lợi ích công”? Có quan điểm cho rằng để thật sự “vì lợi ích công” thì một hành động phải làm lợi cho tất cả thành viên của xã hội. Quan điểm khác lại nêu chỉ cần hành động đó phục vụ cho một số thành viên cộng đồng và không gây tổn hại cho ai cả.
Quan điểm trung dung của Bryan A.Garner “cho rằng phải làm sao để người hưởng lợi nhiều hơn người bị thiệt hoặc có thể đền bù cho người bị thiệt để làm căn cứ xem xét xem liệu đó có phải vì lợi ích công”[26]. Tuy nhiên, đó chỉ là nguyên tắc chung của việc xác định lợi ích công. Trên thực tế lập pháp, khái niệm lợi ích công sẽ cần được định nghĩa bằng một danh mục cụ thể, chẳng hạn bao gồm các hoạt động chống tham nhũng, bảo vệ sự an toàn của cộng đồng, bảo vệ môi trường sống, phát hiện tội ác chống lại con người… Lợi ích công có thể được xem là cốt lõi của rất nhiều quan hệ pháp luật, được quy định rải rác ở nhiều bộ luật, luật… Tuy nhiên, lợi ích công là gì thì luật pháp Việt Nam chưa quy định. Việc làm rõ để có thể vận dụng khái niệm “lợi ích công” trở nên cần thiết trong các mối quan hệ xã hội, để giải quyết các tranh chấp, vi phạm hoặc để cân bằng lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội.
Nếu hiểu trên nghĩa rộng, lợi ích công trước hết là lợi ích quốc gia - dân tộc. Trong bối cảnh mới gồm có lợi ích sống còn và lợi ích phát triển, nên cần làm rõ hơn về mặt lý luận nội hàm của quan điểm trong xử lý hài hòa hai mối quan hệ lợi ích cũng như thứ tự ưu tiên trong từng trường hợp cụ thể. Trong đó, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc cùng bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa là lợi ích sống còn của quốc gia - dân tộc, mang tính bất biến, vĩnh cửu. Lợi ích công cũng có thể được bao gồm lợi ích về kinh tế, về chính trị, về 19 văn hóa - xã hội, về quốc phòng - an ninh, đối ngoại, vì vậy cần làm rõ hơn về mặt lý luận nội hàm của quan điểm trong xử lý hài hòa mối quan hệ giữa các thành tố lợi ích dân tộc khi “đặt lợi ích dân tộc là trên hết, trước hết”.
Trong đó, lợi ích kinh tế là trung tâm của mọi lợi ích, được hình thành từ các quá trình kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Lợi ích chính trị gắn liền với sự ổn định, vững mạnh và sự lãnh đạo, quản lý, vận hành hiệu lực, hiệu quả của thể chế chính trị được xác lập trong Hiến pháp. Lợi ích văn hóa góp phần tạo ra những giá trị làm nền tảng tinh thần của xã hội. Lợi ích quốc phòng - an ninh, đối ngoại gắn với độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, sự ổn định chính trị và môi trường hòa bình, ổn định của đất nước là cơ sở, nền tảng để bảo vệ và phát huy, phát triển, mở rộng lợi ích kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội.
Lợi ích xã hội là thứ gì đó mang lại lợi ích cho lượng người lớn nhất và trên phạm vi lớn nhất có thể, chẳng hạn như không khí sạch, nước sạch, chăm sóc sức khỏe và xóa mù chữ. Lịch sử của lợi ích xã hội bắt nguồn từ các nhà triết học Hy Lạp cổ đại, hàm ý tác động tích cực đến các cá nhân hoặc xã hội nói chung. Nếu như lợi ích cá nhân là tất cả những lợi ích vật chất, tinh thần gắn liền với từng cá nhân cụ thể và dùng để thỏa mãn các nhu cầu riêng tư cụ thể của cá nhân đó, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của cá nhân; bao gồm: lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị,. thì lợi ích xã hội là cái phản ánh quan hệ nhu cầu của xã hội và là cái dùng để thỏa mãn nhu cầu chung của toàn xã hội về một (một số) đối tượng (vật chất, tinh thần) nhất định, bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của xã hội trong từng giai đoạn lịch sử, thể hiện các quan hệ cơ bản và lâu dài của xã hội.
Lợi ích xã hội ở đây không phải là lợi ích của một nhóm người, một giai tầng, mà đó là lợi ích của cả dân tộc, trong đó có lợi ích chung của các cá nhân cấu thành dân tộc, của cả dân tộc và không mâu thuẫn với lợi ích chung của nhân loại tiến bộ. Nếu hiểu theo nghĩa hẹp, lợi ích chung có thể hiểu chính là kết quả của việc hạn chế, giới hạn quyền con người, người công dân trong phạm vi cho phép để nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng, hợp lý của nhà nước, xã hội và của các cá nhân khác. Tóm lại, có thể hiểu khái quát, lợi ích công là những lợi ích chung của quốc gia 20 dân tộc, của xã hội trên tất cả các phương diện: kinh tế quốc gia, sức khỏe cộng đồng, lợi ích xã hội… là nền tảng để đảm bảo cuộc sống của người dân, là tiền đề, là cơ sở để bảo vệ, phát triển quốc gia, dân tộc, xã hội. Vai trò của việc bảo vệ lợi ích công Suy cho cùng, sự phát triển xã hội là kết quả của những hoạt động có ý thức của con người “đang theo đuổi những mục đích nhất định”.
Lợi ích chính đáng là động cơ thôi thúc hành động của mỗi con người; việc giành, bảo vệ lợi ích chính đáng, hợp pháp bao giờ cũng là động lực mạnh mẽ nhất, trực tiếp nhất thôi thúc con người ta hoạt động. Lợi ích chính là nhân tố quan trọng nhất trong chuỗi quy định nhân quả dẫn dắt sự hoạt động của con người: nhu cầu - lợi ích - mục đích - hoạt động. Lợi ích công là một trong những vấn đề căn bản, có vai trò, ý nghĩa quyết định bản chất các mối quan hệ trong xã hội. Lợi ích công được đảm bảo là cơ sở để đánh giá sự phát triển kinh tế của đất nước.
Lợi ích công được đảm bảo góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Lợi ích công được bảo vệ thể hiện sự ổn định, trật tự trong xã hội. Khẳng định vai trò, vị trí của Nhà nước, dân tộc, cộng đồng chung trong một khối thống nhất. Tạo nên chỉnh thể thống nhất giữa Nhà nước và nhân dân, góp phần hài hòa quyền và lợi ích chính đáng của xã hội và lợi ích cá nhân.
Lợi ích công được bảo vệ cũng phần nào khẳng định được quyền lợi ích Nhà nước, cộng đồng, dân tộc luôn được đặt trong tương quan với quyền con người, quyền riêng tư của cá nhân. Bảo đảm lợi ích, sự kết hợp hài hòa các lợi ích và phương thức thực hiện lợi ích công bằng, hợp lý cho mọi người, cho các chủ thể. Không quyền nào được xem là tuyệt đối. Tóm lại, bảo vệ lợi ích công vừa là mục tiêu, vừa là nguyên tắc cơ bản trong chính sách đối nội, đối ngoại của Việt Nam hiện nay, là kim chỉ nam cho mọi chính sách.
Việc nhất quán kiên định quan điểm “đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, trước hết” có vai trò cực kỳ quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia. Một là, góp phần 21 duy trì và giữ vững an ninh, trật tư, môi trường hòa bình, ổn định. Hai là, đảm bảo cơ sở vật chất, hạ tầng phục vụ cho sự phát triển của đất nước, ổn định cuộc sống nhân dân. Ba là nâng cao vị thế đất nước, góp phần xây dựng đất nước ngày càng tiến bộ, công bằng và dân chủ hơn tạo điều kiện để đưa đất nước tiến lên.
Các phương thức bảo vệ lợi ích công Không khó để thấy rằng pháp luật Việt Nam cũng đang quy định ba phương thức chính để bảo vệ lợi ích công bao gồm: Thứ nhất, các chế tài dân sự: chế tài này được áp dụng dựa vào quy định về bồi thường ngoài hợp đồng trong pháp luật dân sự khi có hành vi xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng gây thiệt hại… Thứ hai, xử lý hành chính, chế tài xử lý hành chính này được áp dụng đối với các hành vi xâm phạm đến lợi ích Nhà nước, quốc gia dân tộc, trật tự công cộng… Thứ ba, chế tài hình sự, được áp dụng đối với các tội xâm phạm tài sản Nhà nước và lợi ích cộng cộng….