Chương 1: Sự vận động tiểu thuyết Nguyên Hồng trong đời sống văn học Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám Chương 2: Sự thể hiện cảm quan hiện thực và số phận con người trong tiểu thuyết Bỉ vỏ Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật biểu hiện cảm quan hiện thực và con người trong tiểu thuyết Bỉ vỏ 6 NỘI DUNG CHƢƠNG 1 VỊ TRÍ NGUYÊN HỒNG TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HỌC VIỆT NAM TRƢỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1. Cuộc đời và sự nghiệp văn học 1. Cuộc đời Nhà văn Nguyên Hồng tên thật là Nguyễn Nguyên Hồng, sinh ngày 5- 11-1918 tại thành phố Nam Định. Ông sinh ra trong một gia đình viên chức nghèo.
Cha mất sớm, từ nhỏ đã theo mẹ ra Hải Phòng kiếm sống trong các xóm chợ nghèo. Cuộc đời bất hạnh, số phận éo le trắc trở nhưng ông vẫn yêu cuộc sống tha thiết. Những năm tháng đáng nhớ nhất trong cuộc đời ông gắn liền với từng góc phố, bến tàu những con người lam lũ vất vả, dưới đáy xã hội nơi đất Cảng. Chính từ hoàn cảnh sống gắn bó máu thịt với người lao động cùng khổ, đói cơm, rách áo đã thấm sâu vào văn chương, thế giới nghệ thuật của ông, mỗi trang viết là tiếng nói chân thực xuất phát từ trái tim bằng tất cả yêu thương và trân trọng.
Nguyên Hồng bắt đầu viết văn từ năm 1936 với truyện ngắn Linh Hồn đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy. Đến năm 1937 ông mới thực sự gây được tiếng vang trên văn đàn với cuốn tiểu thuyết Bỉ vỏ. Tác phẩm được nhóm Tự Lực Văn Đoàn trao giải nhì và được đánh giá là bức tranh xã hội sinh động về thân phận nhưng con người nhỏ bé dưới đáy. Từ năm 1936 – 1939, Nguyên Hồng tham gia phong trào Mặt trận Dân chủ (1936-1939) ở Hải Phòng.
Năm 1943, Nguyên Hồng tham gia Hội Văn hóa Cứu quốc bí mật cùng với Nam Cao, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng. trở thành Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam. Ông giữ chức vụ Chủ tịch chi hội 7 Văn học nghệ thuật ở Hải Phòng. Nguyên Hồng qua đời vào ngày 2 tháng 5 năm 1982 tại Tân Yên (Bắc Giang) trong nỗi day dứt về bộ tiểu thuyết Núi rừng Yên Thế, viết về cuộc khởi nghĩa Hoàng Hoa Thám còn đang dang dở.
Hơn bốn mươi năm lao động và sáng tạo nghệ thuật bền bỉ tựa như ông sinh ra là để cầm bút, mỗi trang văn của Nguyên Hồng đều bật lên từ những đau khổ cùng cực của cuộc đời, với ông văn chương trước hết là câu chuyện của tấm lòng, mỗi tác phẩm chính là đứa con tinh thần, là niềm đam mê lớn nhất của cuộc đời ông. Bởi thế: “văn chương Nguyên Hồng bao giờ cũng lấp lánh sự sống. Những dòng chữ đầy chi tiết cứ cựa quậy, phập phồng. Một thứ văn bám riết lấy cuộc đời và quấn quýt lấy con người.
Ông luôn thấu hiểu, và cảm thông trước những kiếp người lầm than những cảnh đời cơ cực, thấm đẫm niềm xót thương thống thiết trước nỗi đau khổ ê chề của những con người nhỏ bé dưới đáy xã hội. Ông viết về họ bằng tất cả tình yêu thương, niềm trân trọng như thể đang kể một câu chuyện về chính cuộc đời mình. Cuộc hò hẹn với văn chương, cùng trái tim yêu thương con người, đã đưa Nguyên Hồng trở thành nhà văn của quần chúng cần lao, mỗi trang viết là một sự trải lòng thấm thía, là sự sẻ chia gắn bó với cuộc đời. Ông xứng đáng là “thế hệ nhà văn tạo ra sự sống” (Như Phong).
Chính tình yêu thương con người vô bờ bến và niềm tin vào một tương lai sáng tươi, là ngọn lửa ấm nóng, xuyên suốt trong hành trình sáng tác và thấm đẫm trong mỗi trang văn Nguyên Hồng. Đó chính là cái thổi bùng lên sức sống dài lâu trong mỗi tác phẩm của nhà văn. Trong hội thảo “Nhà văn Nguyên Hồng – cuộc đời và sự nghiệp văn chương nhân kỉ niệm 95 năm ngày sinh của ông (1918 - 2013)”. Nhà thơ Hữu Thỉnh, chủ tịch hội nhà văn Việt Nam đã khẳng định thành tựu văn học lớn lao của Nguyên Hồng trong việc đặt nền móng cho văn học nước nhà, và là một trong những cánh chim đầu đàn của nền văn học Việt Nam hiện đại.
8 Nguyên Hồng chính là biểu tượng mẫu mực về sự lao động và hi sinh cống hiến cho nền văn học dân tôc. Sự nghiệp văn học Nguyên Hồng đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp sáng tác văn học và trở thành nhà văn lớn, biểu tượng về đức độ và tài năng, hết lòng vì nghệ thuật. Ông giống như người thợ cày siêng năng trên cánh đồng chữ nghĩa mênh mông, và trong tình yêu thương sâu sắc nơi trái tim con người. Nguyên Hồng bắt đầu viết văn từ năm 1936 với truyện ngắn Linh Hồn đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy.
Đến năm 1937, ông thực sự gây được tiếng vang trên văn đàn với tiểu thuyết Bỉ vỏ, đó là bức tranh xã hội sinh động về thân phận những "con người nhỏ bé dưới đáy" như Tám Bính, Năm Sài Gòn. Trong gần năm mươi năm cầm bút, Nguyên Hồng đã để lại cho đời một sự nghiệp sáng tác đồ sộ, với số lượng gần bốn mươi tác phẩm, gồm đủ các thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, bút kí. trong đó có nhiều tác phẩm có giá trị lâu dài cho nền văn học dân tộc. Các tác phẩm chính của ông gồm: Tiểu thuyết: Bỉ vỏ (1938); Cuộc sống (1942); Sóng gầm (1961); Khi đứa con ra đời (1976); Núi rừng Yên Thế (1981).
Truyện vừa, truyện ngắn: Ngọn lửa (1945); Đêm giải phóng (1951); Giữ thóc (1955); Giọt máu (1956). Ký, hồi ký: Những ngày thơ ấu (1940); Đất nước yêu dấu (1949). Thơ: Trời xanh (1960); Sông núi quê hương (1973). Với những đóng góp to lớn của mình ông được nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 1996.
Tiểu thuyết đầu tay Bỉ vỏ (1938) thành công khi Nguyên Hồng chỉ mới hai mươi tuổi sau những ngày tháng lủi thủi đi hết từ bến cảng Chợ Sắt rồi mò đến vườn hoa đưa người để tìm việc làm. Bỉ vỏ là cuốn tiểu thuyết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự nghiệpNguyên Hồng tác phẩm đã gây được tiếng vang trên văn đàn và đánh dấu tên tuổi của ông. Tiểu thuyết xoay quanh nhân vật trung tâm là Tám Bính, một cô gái thôn chân quê thật thà, chất phác, giàu 9 tình yêu thương và đức hi sinh, nhưng chính hiện thực lạc hậu của vùng quê nghèo cùng những hủ tục, định kiến khắc nghiệt đã đẩy cô tới bước đường tha hóa, gia nhập kiếp sống giang hồ của những kẻ đáy cùng xã hội nơi phố cảng Hải Phòng. Cuộc đời Bính là chuỗi dài những bi kịch nối tiếp, trót dại mang thai với một tên sở khanh sinh ra đứa con trai nhưng bị cha mẹ ruồng rẫy, nhẫn tâm bán đứa nhỏ.
Ám ảnh bởi những hủ tục, Bính bỏ lên Hải Phòng kiếm tiền chuộc con và hi vọng tìm được cha của đứa trẻ để gia đình đoàn tụ. Sau nhiều biến cố, cô trở thành gái giang hồ. Trong lúc bệnh tật đau khổ cùng cực nhất, Bính được Năm Sài Gòn chùm chạy vỏ khét tiếng cưu mang. Năm bị bắt bỏ tù, Bính trở lại buôn bán kiếm sống qua ngày, hi vọng anh ra tù cả hai làm lại cuộc đời.
Năm thoát ra ngoài nhưng không nghe lời khuyên của Bính, “ngựa quen đường cũ” tiếp tục hành nghề cướp giật. Bính bị lôi kéo vào con đường lưu manh trở thành “bỉ vỏ” khét tiếng. Do ghen tuông Năm đuổi Bính đi, để cứu cha mẹ đang gặp tai họa khỏi bị tù Bính nhận lời lấy một tên mật thám. Trong một lần trộm cắp Năm bị bắt dưới tay chồng Bính.
Ân tình xưa thôi thúc Bính cứu Năm thoát khỏi tù đày cả hai trở lại sống cuộc sống ngoài vòng pháp luật. Nhưng trong lòng Bính vẫn day dứt khao khát cuộc đời trong sạch. Cuối cùng Bính phải trả giá, Năm đã giết chết đứa con đầu lòng Bính mong mỏi tìm lại, trong một lần “làm tiền”, và cả hai đã bị bắt bởi chính tên mật thám là chồng cô trước đây. Qua nhân vật Tám Bính tác giả đã phơi bày bộ mặt bất công của trật tự xã hội đương thời, từ bọn cường hào với thành kiến, hủ tục, đến thành thị bẩn thỉu đê hèn.
Bỉ vỏ không chỉ tái hiện xã hội chính xác, khách quan, mà còn đi sâu vào từng ngóc ngách trong thẳm sâu tâm hồn con người để yêu mến nâng niu. Cơ sở hình thành cảm quan hiện thực 10 Lâu nay khái niệm cảm quan được dùng khá phổ biến: cảm quan đời sống, cảm quan đô thị, cảm quan tôn giáo, cảm quan nghệ thuật, cảm quan hậu hiện đại… Về phương diện ngôn ngữ học, theo Từ điển tiếng Việt (2004), tác giả Hoàng Phê viết rất ngắn gọn: “cảm quan”: giác quan, bộ phận của cơ thể chuyển tiếp tiếp nhận những kích thích từ bên ngoài [12,294]. Theo nghĩa này “cảm quan” thiên về vai trò của yếu tố khách quan, lý trí, nhấn mạnh sự tác động của bên ngoài đến nhận thức. Trong tiếng Anh, từ “Feeling” có nghĩa tương đương với “cảm quan”.
Thuật ngữ này mang nghĩa khái quát là tổng hợp giác, là cầu nối giữa ý thức với tiềm thức và vô thức, giữa bản năng và lý trí. Trong thực tiễn sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt, khái niệm cảm quan dùng với nghĩa phổ biến đó là loại nhận thức đặc biệt, nhận thức không phải bằng lôgic, bằng khái niệm mà bằng cảm giác, cảm tính, có tính trực cảm, trực giác được phát tiếp từ vô thức. Việc giải thích mối quan hệ giữa hiện thực cuộc sống và tác phẩm nghệ thuật, cảm quan hiện thực của người nghệ sĩ không phải là một công việc giản đơn, máy móc mà nó đòi hỏi phải có sự nhạy cảm và tinh tế trong tư duy, tư tưởng của nhà văn. Phản ánh hiện thực là thuộc tính của văn nghệ nhận thức và biểu hiện tư tưởng tình cảm thái độ nhà văn.
Có thể thấy cảm quan hiện thực trong văn Nguyên Hồng khơi nguồn từ thực tiễn xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, nhân tố chủ quan và khách quan xuất phát từ cuộc đời và bản thân nhà văn. Hai nhân tố này giữ vai trò quan trọng tạo nên cái nhìn hiện thực, cảm thông, trân trọng, yêu thương, nâng niu những người cùng khổ, xuyên suốt quá trình sáng tác của Nguyên Hồng. Nhân tố khách quan Hoàn cảnh lịch sử xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX có những biến đổi sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa.