mở đầu công trình đồ sộ Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới; Nguyễn Thị Lệ Hà cách đây hai mươi năm bảo vệ thành công luận án tiến sĩ “Cảm quan tương ứng trong Những bông hoa ác của Baudelaire” (1995); Phan Thị Thu Hiền viết bài “Cảm quan Phật giáo trong thế giới nghệ thuật của Cánh đồng bất tận”; Nhà văn Chu Lai có bài “Viết bằng cảm quan người lính”; “Nguyễn Du và Thăng Long xem xét từ cảm quan thẩm mỹ” là bài nghiên cứu của Nguyễn Huệ Chi v.” [61] Từ phương diện nghệ thuật, “Cảm quan” như một thuật ngữ mỹ học được hình thành trên các cơ sở ngôn ngữ học, triết học và tâm lý học trên đây. Trong Từ điển các thuật ngữ văn học (The Routledge Dictionary of Literary Terms), LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 “Feeling được hiểu là bằng cách nào một tác phẩm nghệ thuật (văn học) được tạo ra và nó ảnh hưởng đến người đọc như thế nào, bằng cách nào”. Nghệ thuật là lĩnh vực hoạt động sáng tạo trong đó cảm quan hữu cơ đóng vai kiểm soát mạnh, hay nói cách khác, mỗi tác phẩm nghệ thuật như một kiểu biểu tượng hóa ý tưởng về cảm quan.Nếu trong cuộc sống thường nhật, cảm quan in dấu ấn cá nhân trong cách nhìn nhận, cách nhận thức sự vật, hiện tượng thì trong nghệ thuật, cảm quan như là thuộc tính đặc trưng của hình ảnh nội dung được ẩn giấu (và vén mở) trong ẩn dụ, biểu tượng, huyền thoại. Như vậy, cảm quan được hiểu là hệ thống những cảm xúc, cảm nhận, nhận định của cá nhân trước thế giới xung quanh.
Nó bộc lộ thế giới quan riêng của cá nhân và cảm thức riêng của mỗi người. Trước hiện thực cuộc sống, mỗi người có một cảm quan riêng. Nhưng xét riêng trong văn chương nghệ thuật thì cảm quan được hiểu là cảm quan của người nghệ sĩ. Với nghệ sĩ cảm quan càng tinh tế, bén nhạy càng khiến cho tác phẩm có giá trị lớn.
Cảm quan của cá nhân người nghệ sĩ có sự hòa hợp với cảm quan thời đại. Tìm hiểu cảm quan của nhà văn sẽ giúp người đọc hình dung được những nền tảng tư tưởng sâu xa chi phối đến quá trình sáng tác và những nhận định, đánh giá về hiện thực, con người mà tác giả muốn gửi gắm qua tác phẩm của mình. Đô thị hiện đại Việt Nam bắt đầu được hình thành và mở rộng từ đầu thế kỷ XX khi thực dân Pháp tiến hành mạnh mẽ quá trình khai thác thuộc địa. Với đa số cư dân Việt quen với không gian sinh tồn là dòng sông, mảnh ruộng, khu vườn, cây đa giếng nước thì đô thị hiện đại là không gian khá lạ lẫm.
Có người nhìn nhận đô thị là nơi phồn hoa đô hội với sự hào nhoáng của phố phường tấp nập, đông vui. Nhưng dưới góc nhìn khác, đô thị lại hiện ra với sự xô bồ, chen lấn, ganh đua ngột ngạt. Đô thị vừa là nơi năng động, đầy ắp những cơ hội, những mơ ước đổi đời, những khát vọng làm giàu, thành danh nhưng cũng chứa đầy cạm bẫy, những mưu toan thủ đoạn hèn hạ, khiến người ta sợ hãi trốn chạy. Như vậy, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 “cảm quan đô thị ” được hiểu như một cách tiếp nhận trực tiếp về đô thị, là cách người nghệ sĩ quan sát, thể hiện cảm xúc, cảm nhận, quan niệm của mình về cuộc sống đô thị.
Từ đó đô thị gắn liền với lối sống, tâm trạng của cá nhân người nghệ sĩ. Qua văn học đô thị đã tạo nên trường thẩm mỹ riêng, khuynh hướng thẩm mỹ riêng của người nghệ sĩ. Nó tạo nên nhân sinh quan của người nghệ sĩ. Theo chúng tôi cảm quan đô thị thực chất là cái nhìn, là thái độ, cách đánh giá và ý thức về con người thị dân, về hiện thực xã hội trong môi trường đô thị.
Cảm quan đô thị có vai trò quan trọng trong hệ thống các cảm quan của văn học. Bởi lẽ, khi xã hội có sự chuyển biến từ làng lên phố thì cuộc sống con người có nhiều thay đổi. Văn chương luôn phản ánh hiện thực khách quan qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ. Vì thế để cảm nhận môi trường đô thị cũng cần có cảm quan riêng: Cảm quan đô thị.
Chỉ có cảm quan ấy mới phản ánh được chân thực, sâu sắc bức tranh đô thị Việt Nam. Có thể thấy rằng, văn học đô thị và cảm quan đô thị là hai vấn đề khác nhau nhưng lại có quan hệ chặt chẽ. Nếu văn học đô thị lựa chọn phạm vi hiện thực là đô thị để phản ánh, thì cảm quan đô thị là cái nhìn, thái độ đánh giá của nhà văn. Cùng một phạm vi hiện thực, cùng một đối tượng nhưng mỗi nhà văn lại có cái nhìn và sự đánh giá khác nhau.
Chính điều này tạo ra đặc điểm và phong cách riêng cho từng nhà văn và tạo ra sự đa dạng cho bức tranh văn học đô thị nói riêng và bức tranh văn học Việt Nam nói chung. Sơ lược về cảm quan đô thị trong văn học Việt Nam 1. Giai đoạn trước thế kỷ XX Do văn hóa Việt Nam là nền văn hóa nông nghiệp lúa nước, cư dân ưa sự tĩnh tại, ổn định, gắn bó với sản xuất nông nghiệp trồng lúa nên sự thay đổi ồn ào của đô thị không phải là mối quan tâm hàng đầu. Vậy nên trong văn chương không gian lí tưởng là không gian điền viên, đề tài lí tưởng cũng không phải là đề tài thành thị và tầng lớp thị dân.
Tuy không phải là cảm quan chủ đạo của văn học trung đại nhưng ta có thể nhận thấy bóng dáng đô thị được thể hiện khá sớm trong LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 18 bài thơ Đề Báo Thiên tháp của Phạm Sư Mạnh ( Khoảng 1300-1360) khi ông ca ngợi kinh thành Thăng Long với niềm tự hào mãnh liệt. Đến Nguyễn Du hình ảnh đô thành Thăng Long được phản ánh gián tiếp qua số phận đáng thương của một kỹ nữ Hà Thành tài năng nhưng bị người đời coi thường khinh miệt. Lê Hữu trác đã ghi lại cảnh đô thị sầm uất trong Thượng kinh kí sự với đình, đài, miếu mạo nguy nga nơi cung vua phủ chúa không phải để ca ngợi chốn ăn chơi xa hoa, mà để bộc lộ thái độ phê phán thói hưởng lạc của giới quyền quý là nguyên nhân gây ra bao đau khổ cho dân lành. Cùng có nỗi niềm hoài cổ trước sự biến thiên của cuộc đời, nhưng nếu Bà Huyện Thanh Quan trong Thăng Long thành hoài cổ nối tiếc đến đớn đau những cảnh hoa lệ, phồn thịnh của phố xá với những con đường tấp nập ngựa xe, với lâu đài nguy nga, tráng lệ bị phá hủy điêu tàn bởi binh lửa cuộc đời thì Tú Xương- nhà thơ gắn bó máu thịt với thành Nam, trước sự đổi thay của phố phường Nam Định: “Trời kia xui khiến nên sông bãi Ai khéo xoay ra phố nửa làng.” ( Sông lấp) Không gian làng quê đã thay đổi dẫn đến sự thay đổi cả con người lẫn lối sống.
Lối sống dân quê nặng tình cảm, lễ nghi, khuôn phép không còn, sự bát nháo mang nặng hơi hám đồng tiền của đời sống đô thị đã len lỏi vào từng gia đình khiến Tú Xương ngao ngán thốt lên: “ Có đất nào như đất tớ không Phố phường tiếp giáp với bờ sông. Nhà kia lỗi phép con khinh bố Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng.” ( Đất Vị Hoàng) Bằng cảm quan nhạy bén, Tú Xương đã sớm nhận ra những bát nháo trong LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 19 đời sống đô thị trong buổi đầu của sự giao thời văn hóa và kinh tế Âu - Á. Với giọng điệu giễu nhại, trào lộng đầy chua xót, Tú Xương không giấu giếm sự chán ngán cuộc sống nhố nhăng nơi thành Nam. Như vậy, có thể khẳng định, tuy không phải là cảm quan chủ đạo nhưng đô thị và cảm quan đô thị manh nha xuất hiện trong nền văn học giai đoạn này sẽ là tiền đề quan trọng để đô thị trở thành đề tài quen thuộc trong các sáng tác của các nhà thơ, nhà văn giai đoạn sau này.
Giai đoạn từ thế kỷ XX đến 1945 Đầu thế kỷ XX, sự ra đời và phát triển mạnh của các đô thị nhằm phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam đã có tác động lớn đến đời sống kinh tế cũng như đời sống tinh thần của đa số dân chúng đặc biệt là bộ phận dân chúng sống ở các thành thị. Chữ quốc ngữ ra đời thay cho chữ Hán và chữ Nôm. Nền văn học cùng đội ngũ sáng tác dần thoát khỏi sự ảnh hưởng của văn học Trung Hoa và hội nhập với nền văn học phương tây mà cụ thể là nền văn học nước Pháp. Nghề báo in xuất bản ra đời và phát triển khiến cho đời sống văn hóa trở nên sôi nổi.
Tất cả những điều kiện xã hội thời điểm này thuận lợi cho đời sống văn học đô thị của tầng lớp thị dân ra đời và phát triển. Người được coi là tác giả mở đầu cho văn học thị dân giai đoạn này chính là Trần Chánh Chiếu. Qua tác phẩm Hoàng Tố Oanh hàm oan, các bài báo và các truyện ngắn khác, người đọc dễ dàng nhận ra tác phẩm của ông tuy còn ảnh hưởng về hình thức theo kết cấu chương hồi của tiểu thuyết Trung Quốc nhưng nội dung đã mang hơi thở của thời đại. Qua các tác phẩm của mình, Trần Chánh Chiếu đã hé mở phần nào cái hiện thực phồn tạp của cuộc sống đô thị đang thay đổi.
Phạm Duy Tốn lại mang đến cho người người đọc cái nhìn về góc khuất, mặt tối của cuộc sống đô thị. Đọc tác phẩm Nước đời lắm nỗi, ta thấy rõ một bộ phận thanh niên Việt Nam ở các đô thị bị chính quyền thực dân đầu độc bằng rượu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 20 cồn và thuốc phiện để họ quên đi hiện thực, quên đi tinh thần yêu nước, khát vọng giải phóng dân tộc. Đô thị càng phát triển thì đời sống đô thị, nhất là đời sống tâm hồn của con người đô thị càng được các nhà văn quan tâm thể hiện. Tác phẩm viết về tình yêu của lớp thanh niên đô thị chịu ảnh hưởng của lối sống phương Tây có sức lay động lớn đến người đọc.
Tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách là một minh chứng điển hình. Đóng góp cho văn học đô thị giai đoạn này ta còn có thể kể đến nhà văn Hồ Biểu Chánh, tác giả khá nổi tiếng của văn học Nam Bộ.