Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Gia đình là tế bào của xã hội, trong đó hôn nhân đóng vai trò là cơ sở nền tảng xác lập quan hệ gia đình. Việc xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ đòi hỏi phải thiết lập chế độ hôn nhân tự nguyện, lành mạnh và bình đẳng. Trong hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, bên cạnh việc quy định các điều kiện kết hôn mang tính tích cực, chế định cấm kết hôn được nhà nước xác lập từ rất sớm nhằm ngăn chặn các hành vi vi phạm đạo đức, bảo vệ trật tự xã hội và nâng cao chất lượng giống nòi.
Sự ra đời của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã khắc phục nhiều hạn chế của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, bổ sung và hoàn thiện các quy định về cấm kết hôn phù hợp với bối cảnh mới. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành cho thấy các hành vi vi phạm điều cấm vẫn diễn biến phức tạp, tác động tiêu cực đến thuần phong mỹ tục, trật tự quản lý nhà nước cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Do đó, việc nghiên cứu toàn diện các quy định về cấm kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là đòi hỏi cấp thiết cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn áp dụng.
Khóa luận xác định mục đích nghiên cứu là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản, tổng hợp tiến trình lập pháp trong lịch sử Việt Nam, phân tích cụ thể các trường hợp cấm kết hôn theo luật thực định năm 2014, đánh giá thực tiễn thi hành và đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm quyền kết hôn của con người. Để đạt được mục đích này, tác giả đặt ra 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tìm hiểu một số vấn đề lý luận về các trường hợp cấm kết hôn (khái niệm kết hôn, điều kiện kết hôn, cấm kết hôn, cơ sở và ý nghĩa của việc quy định các trường hợp cấm kết hôn).
- Phân tích nội dung các trường hợp cấm kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các biện pháp chế tài xử lý vi phạm.
- Nhìn nhận và đánh giá thực tiễn áp dụng luật thực định về các trường hợp cấm kết hôn tại Việt Nam hiện nay.
- Đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành quy định về cấm kết hôn.
Về đối tượng nghiên cứu, đề tài tập trung vào các vấn đề lý luận về cấm kết hôn trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, các quy định pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử và thực tiễn thi hành các quy định này tại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của khóa luận được giới hạn trên các phương diện:
- Lịch sử lập pháp: Khái lược các quy định cấm kết hôn qua các giai đoạn phong kiến, Pháp thuộc và sau năm 1945.
- Nội dung pháp lý: Tập trung chuyên sâu vào các trường hợp cấm kết hôn, không đi sâu vào toàn bộ chế định điều kiện kết hôn và thủ tục đăng ký kết hôn nói chung.
- Đối tượng điều chỉnh: Loại trừ các trường hợp cấm kết hôn có yếu tố nước ngoài.
- Thời gian khảo sát: Đánh giá thực tiễn thi hành luật thực định sau gần 9 năm Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực (tính đến năm 2023).
Cơ sở pháp lý, lý luận và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận vận dụng hệ thống lý luận của khoa học pháp lý về quan hệ hôn nhân, quyền nhân thân và chế định kết hôn. Các khái niệm cốt lõi như kết hôn, điều kiện kết hôn và cấm kết hôn được xây dựng dựa trên Từ điển tiếng Việt, Từ điển giải thích thuật ngữ luật học (Trường Đại học Luật Hà Nội, 1999), phán quyết kinh điển trong vụ án Hyde v. Hyde (1886) của Lord Penzance trong truyền thống Civil Law/Common Law, cũng như tư tưởng về quyền tự do mưu cầu hạnh phúc trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945.
Cơ sở văn bản pháp luật được tác giả khai thác bao gồm hai nhóm:
- Hệ thống văn bản pháp luật lịch sử: Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật), Bộ luật Gia Long (Hoàng Việt luật lệ), Bộ dân luật Bắc kỳ năm 1931, Bộ dân luật Trung kỳ năm 1936, Bộ dân luật Giản yếu Nam kỳ năm 1883, Hiến pháp năm 1946, Sắc lệnh số 97/SL (1950), Sắc lệnh số 159/SL (1950), Luật Gia đình số 1/59 tại miền Nam, Luật Hôn nhân và gia đình các năm 1959, 1986 và 2000.
- Hệ thống văn bản pháp luật hiện hành và văn bản hướng dẫn áp dụng: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Hình sự năm 2015, Luật Nuôi con nuôi năm 2010, Luật Hộ tịch năm 2014, Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, Nghị định số 82/2020/NĐ-CP, Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, Thông tư số 60/1978/TT-TATC và Thông tư số 04/2020/TT-BTP.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả đứng trên lập trường phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Các phương pháp cụ thể được triển khai theo từng chương:
- Chương 1 sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phân tích, tổng hợp để phục dựng và lý giải tiến trình phát triển của chế định cấm kết hôn qua các thời kỳ.
- Chương 2 sử dụng phương pháp phân tích quy phạm, so sánh pháp luật, tổng hợp và liệt kê để làm rõ nội dung 6 trường hợp cấm kết hôn và các chế tài tương ứng.
- Chương 3 sử dụng phương pháp phân tích thực tiễn và điều tra xã hội học nhằm đánh giá thực trạng áp dụng luật, chỉ ra những hạn chế và luận giải các kiến nghị sửa đổi.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng xuyên suốt toàn bộ công trình.
Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm văn bản quy phạm pháp luật, giáo trình chuyên ngành của Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, các công trình nghiên cứu đã công bố của tác giả Bùi Thị Mừng (2010, 2011, 2012, 2015), Lăng Thị Mai (2019), Trần Thị Quỳnh Trang, cùng các báo cáo, tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ đăng ký hộ tịch và thống kê y học về bệnh tan máu bẩm sinh (Thalassemia).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về các trường hợp cấm kết hôn
Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận về chế định cấm kết hôn trong khoa học luật hôn nhân và gia đình, phân tích các khái niệm nền tảng, căn cứ xác lập và ý nghĩa pháp lý của các điều cấm, đồng thời tái hiện lịch sử lập pháp Việt Nam qua các thời kỳ.
Tác giả chỉ rõ kết hôn là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ vợ chồng giữa nam và nữ khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký. Cấm kết hôn là những quy định bắt buộc của pháp luật xác định các trường hợp cụ thể mà nam, nữ không được phép xác lập quan hệ hôn nhân. Việc nhà nước đặt ra các trường hợp cấm kết hôn xuất phát từ 4 cơ sở:
- Cơ sở đạo đức, phong tục tập quán và thuần phong mỹ tục của dân tộc.
- Cơ sở khoa học - sinh học nhằm bảo đảm sự phát triển lành mạnh của nòi giống, loại trừ nguy cơ truyền bệnh di truyền cho thế hệ sau.
- Cơ sở thực tiễn phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội qua từng giai đoạn lịch sử.
- Cơ sở kế thừa và phát triển từ lịch sử lập pháp của dân tộc.
Về mặt ý nghĩa, quy định cấm kết hôn là căn cứ pháp lý để xác lập hôn nhân hợp pháp, loại trừ việc kết hôn trái pháp luật, thực hiện nhiệm vụ quy định chuẩn mực pháp lý cho các thành viên gia đình (Điều 1 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014) và bảo đảm nguyên tắc bình đẳng của mọi công dân khi tham gia quan hệ hôn nhân.
Tiến trình phát triển của các quy định cấm kết hôn trong lịch sử pháp luật Việt Nam được tác giả tổng hợp qua các thời kỳ:
| Thời kỳ lịch sử |
Văn bản tiêu biểu |
Quy định cấm kết hôn đặc trưng |
| Phong kiến |
- Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật) - Bộ luật Gia Long (Hoàng Việt luật lệ) |
- Cấm kết hôn khi đang có tang cha, mẹ hoặc tang chồng (Điều 317 BL Hồng Đức). - Cấm anh lấy vợ góa của em, em lấy vợ góa của anh, trò lấy vợ góa của thầy (Điều 324 BL Hồng Đức). - Cấm quan trấn giữ biên ải kết hôn với con tù trưởng (Điều 334 BL Hồng Đức); cấm kết hôn với người làm nghề hát xướng (Điều 323 BL Hồng Đức). - Cấm lừa dối trong hôn nhân (Điều 93, 94 BL Gia Long); cấm nô tỳ lấy dân tự do (Điều 107 BL Gia Long); cấm quan lại lấy phụ nữ thuộc quyền cai quản làm thê thiếp (Điều 103, 183 BL Gia Long). |
| Pháp thuộc |
- Dân luật Bắc kỳ (1931) - Dân luật Trung kỳ (1936) - Dân luật Giản yếu Nam kỳ (1883) |
- Cấm kết hôn giữa những người thân thích trong phạm vi 6 đời (Điều 74 Dân luật Bắc kỳ, Dân luật Trung kỳ). - Cấm kết hôn khi đang để tang cha mẹ, ông bà, vợ chồng (Điều 84 Dân luật Bắc kỳ: vợ phải sau 27 tháng, chồng sau 12 tháng mới được tái giá/tái thú). - Thừa nhận chế độ đa thê nhưng quy định chưa lấy vợ chính thì cấm không được lấy vợ thứ (Điều 80 Dân luật Bắc kỳ). |
| 1945 – 1975 |
- Hiến pháp 1946, Sắc lệnh 97/SL, 159/SL - Luật HN&GĐ 1959 - Luật Gia đình 1/59 (miền Nam) |
- Khẳng định quyền bình đẳng nam nữ, xóa bỏ chế độ đa thê. - Cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn với người khác (Điều 5 Luật 1959). - Cấm kết hôn giữa người cùng dòng máu trực hệ, cha mẹ nuôi với con nuôi, anh chị em ruột, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha (Điều 9 Luật 1959). - Cấm người mắc bệnh hủi, hoa liễu, loạn óc chưa chữa khỏi, bất lực hoàn toàn về sinh lý kết hôn (Điều 10 Luật 1959). |
| 1975 – nay |
- Luật HN&GĐ 1986 - Luật HN&GĐ 2000 - Luật HN&GĐ 2014 |
- Mở rộng cấm tảo hôn, cưỡng ép, cản trở hôn nhân tự nguyện (Luật 1986). - Luật 2000 cấm kết hôn trong phạm vi 3 đời; cấm người mất năng lực hành vi dân sự. - Luật 2014 bổ sung cấm kết hôn giả tạo; chuyển việc cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính sang quy định "không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính" (khoản 2 Điều 8). |
Chương 2: Nội dung quy định về các trường hợp cấm kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các biện pháp xử lý
Chương 2 đi sâu phân tích 6 trường hợp cấm kết hôn được quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và hệ thống chế tài xử lý theo pháp luật hôn nhân và gia đình, hành chính và hình sự:
- Cấm kết hôn giả tạo (điểm a khoản 2 Điều 5): Là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam hoặc nước ngoài, hưởng chế độ ưu đãi của nhà nước hoặc nhằm mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình. Quy định này bảo đảm hôn nhân được xác lập trên nền tảng tình cảm thực sự, tránh biến giấy đăng ký kết hôn thành hợp đồng vụ lợi.
- Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn (điểm b khoản 2 Điều 5):
- Cấm tảo hôn: Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo luật định (nam chưa đủ 20 tuổi, nữ chưa đủ 18 tuổi theo điểm a khoản 1 Điều 8). Tác giả phân tích 3 trường hợp tảo hôn: cả hai bên chưa đủ tuổi; nam đủ tuổi nhưng nữ chưa đủ tuổi; nữ đủ tuổi nhưng nam chưa đủ tuổi.
- Cấm cưỡng ép kết hôn: Là hành vi đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn trái với ý muốn của họ (khoản 9 Điều 3).
- Cấm lừa dối kết hôn: Là hành vi cố ý đưa ra thông tin sai sự thật làm cho bên kia hiểu sai lệch mà đồng ý kết hôn.
- Chủ thể có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật (Điều 10): Người bị cưỡng ép, bị lừa dối; vợ/chồng của người vi phạm chế độ một vợ một chồng; cha, mẹ, con, người giám hộ; cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, trẻ em; Hội Liên hiệp Phụ nữ.
- Cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác (điểm c khoản 2 Điều 5): Bảo vệ triệt để nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng tiến bộ. Người đang có vợ/chồng được xác định theo khoản 4 Điều 2 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP. Đề tài chỉ ra ngoại lệ lịch sử mang tính nhân văn: trường hợp cán bộ, bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc lấy vợ/chồng khác được giải quyết theo Thông tư số 60/1978/TT-TATC của TANDTC và các trường hợp xác lập quan hệ vợ chồng trước ngày 03/01/1987 mà chưa đăng ký kết hôn.
- Cấm kết hôn giữa những người có dòng máu về trực hệ, có họ trong phạm vi ba đời (điểm d khoản 2 Điều 5):
- Cơ sở y học: Kết hôn cận huyết làm tăng đột biến tỷ lệ dị tật bẩm sinh, tử vong sơ sinh, thiếu men G6PD, hồng cầu liềm, và đặc biệt là bệnh tan máu bẩm sinh (Thalassemia) với tỷ lệ con sinh ra có tới 50% mang gen bệnh và 25% nguy cơ mắc bệnh thể nặng.
- Xác định phạm vi ba đời (theo Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP và khoản 17 Điều 3): Đời thứ nhất là cha mẹ; đời thứ hai là anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; đời thứ ba là anh chị em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì.
- Cấm kết hôn giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi (điểm d khoản 2 Điều 5): Quan hệ nuôi con nuôi được xác lập theo Luật Nuôi con nuôi năm 2010; con nuôi và cha mẹ nuôi có quyền, nghĩa vụ nhân thân và tài sản (thừa kế hàng thứ nhất theo Điều 651 BLDS năm 2015) bình đẳng như con đẻ, do đó điều cấm nhằm bảo vệ trật tự đạo đức gia đình.
- Cấm kết hôn giữa người từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng với con dâu; mẹ vợ với con rể; cha dượng với con riêng của vợ; mẹ kế với con riêng của chồng (điểm d khoản 2 Điều 5): Tác giả giải thích lý do phải tách thành điều cấm riêng vì dù quan hệ hôn nhân hoặc quan hệ nuôi con nuôi đã chấm dứt về mặt pháp lý (theo Điều 27 Luật Nuôi con nuôi năm 2010), việc kết hôn giữa các chủ thể này vẫn vi phạm thuần phong mỹ tục và đạo lý truyền thống của dân tộc.
Về các biện pháp xử lý vi phạm, khóa luận phân tích hệ thống chế tài ba tầng:
- Xử lý theo Luật Hôn nhân và gia đình: Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật (Điều 10, 11); buộc hai bên chấm dứt quan hệ như vợ chồng (Điều 12); con dưới 36 tháng tuổi ưu tiên giao mẹ trực tiếp nuôi (Điều 81); tài sản giải quyết theo thỏa thuận hoặc theo quy định của BLDS (Điều 16).
- Xử phạt vi phạm hành chính: Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định phạt tiền đối với hành vi tổ chức tảo hôn, duy trì quan hệ tảo hôn (Điều 58); phạt tiền đối với hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng, cấm kết hôn cận huyết, cha mẹ nuôi với con nuôi, kết hôn giả tạo (Điều 59) và buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được.
- Xử lý hình sự: Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ (Điều 181 - hình phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm) và Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 182 - phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm trong các trường hợp nghiêm trọng hoặc làm nạn nhân tự sát).
Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về các trường hợp cấm kết hôn và kiến nghị hoàn thiện
Chương 3 tổng kết thực tiễn áp dụng các quy định về cấm kết hôn sau gần một thập kỷ thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, ghi nhận những kết quả tích cực và nêu bật các quy trình nghiệp vụ tư pháp:
- Nhận thức xã hội và xu hướng vi phạm: Nhờ công tác tuyên truyền và sự rõ ràng của hệ thống chế tài, các trường hợp vi phạm điều cấm kết hôn có xu hướng giảm dần qua các năm; ý thức tôn trọng nguyên tắc một vợ một chồng và bảo vệ đạo đức gia đình trong nhân dân được nâng cao.
- Nâng cao hiệu quả kiểm tra, xác minh đăng ký hộ tịch: Quy trình đăng ký kết hôn được chuẩn hóa theo Luật Hộ tịch năm 2014 và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP (Điều 27). Cán bộ tư pháp - hộ tịch có căn cứ cụ thể để xác minh tình trạng hôn nhân và quan hệ nhân thân trước khi thực hiện đăng ký.
- Tháo gỡ vướng mắc trong xác nhận tình trạng hôn nhân: Thông tư số 04/2020/TT-BTP đã ban hành hướng dẫn quan trọng đối với trường hợp người yêu cầu không nộp lại được giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã cấp trước đó: cơ quan hộ tịch có văn bản xác minh trong 03 ngày làm việc; nếu không xác minh được thì cho phép người yêu cầu lập văn bản cam đoan và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật, giúp khắc phục tình trạng lúng túng, kéo dài thời gian giải quyết hồ sơ.
- Hiệu quả giải quyết tại Tòa án và vai trò của các tổ chức xã hội: Đa số các yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật được giải quyết dứt điểm, bảo vệ quyền lợi phụ nữ và trẻ em, đồng thời phát huy quyền năng pháp lý của Hội Liên hiệp Phụ nữ và các cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, trẻ em trong việc chủ động yêu cầu Tòa án can thiệp.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã trích xuất, phân tích và hệ thống hóa các kết quả cụ thể:
- Làm rõ cấu trúc pháp lý của 6 nhóm trường hợp cấm kết hôn tại khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, phân định ranh giới giữa cấm kết hôn khi đang tồn tại quan hệ nuôi dưỡng/hôn nhân với cấm kết hôn giữa những người đã từng có quan hệ thân tộc, nuôi dưỡng.
- Cung cấp luận cứ khoa học y học chính xác về rủi ro của hôn nhân cận huyết trong phạm vi ba đời, chỉ ra nguy cơ 50% con sinh ra mang gen bệnh và 25% mắc bệnh tan máu bẩm sinh Thalassemia.
- Hệ thống hóa đầy đủ cơ chế xử lý vi phạm đồng bộ giữa ba ngành luật: Luật Hôn nhân và gia đình (hủy kết hôn trái pháp luật), Luật Hành chính (Nghị định số 82/2020/NĐ-CP) và Luật Hình sự (Điều 181, 182 BLHS năm 2015).
- Đánh giá tác động thực tiễn của quy định về thời hạn xác minh 03 ngày và cơ chế cam đoan tình trạng hôn nhân theo Thông tư số 04/2020/TT-BTP trong việc nâng cao hiệu lực quản lý hộ tịch.
Về mặt đóng góp khoa học, công trình đã:
- Tự xây dựng bức tranh toàn cảnh về lịch sử lập pháp Việt Nam đối với chế định cấm kết hôn từ thế kỷ XV đến nay (từ Bộ luật Hồng Đức, Gia Long, thời Pháp thuộc, giai đoạn 1945-1975 đến các đạo luật 1959, 1986, 2000, 2014).
- Phân tích và chỉ rõ tính tiến bộ trong kỹ thuật lập pháp của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 khi chuyển đổi quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính sang cơ chế "không thừa nhận" tại khoản 2 Điều 8.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, đề tài chủ động giới hạn phạm vi nghiên cứu trong khuôn khổ các quy định pháp luật thực định áp dụng cho công dân Việt Nam ở trong nước, chưa mở rộng tiếp cận các trường hợp cấm kết hôn có yếu tố nước ngoài (hôn nhân giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài hoặc giữa người nước ngoài với nhau tại Việt Nam). Đồng thời, công trình tập trung chuyên biệt vào các hành vi bị cấm mà không đi sâu phân tích toàn diện toàn bộ các điều kiện kết hôn khác hay quy trình tố tụng dân sự giải quyết việc hủy kết hôn trái pháp luật.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo, đề tài gợi mở:
- Mở rộng nghiên cứu chế định cấm kết hôn trong tư pháp quốc tế và các quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
- Khảo sát sâu hơn các vướng mắc trong thực tiễn xét xử của Tòa án các cấp và bất cập trong cơ chế cưỡng chế thi hành án dân sự đối với việc chấm dứt chung sống như vợ chồng trái pháp luật.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu học thuật hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật học, Luật Dân sự và Hôn nhân gia đình: Dùng làm tài liệu tham khảo chuyên sâu về lý luận cấm kết hôn, lịch sử lập pháp và kỹ thuật xây dựng quy phạm pháp luật hôn nhân.
- Cán bộ tư pháp - hộ tịch tại các Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn: Tham khảo phần phân tích nghiệp vụ xác minh hồ sơ đăng ký kết hôn, xử lý vướng mắc giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo Thông tư 04/2020/TT-BTP và Nghị định 123/2015/NĐ-CP.
- Cơ quan tiến hành tố tụng và tổ chức xã hội: Cung cấp căn cứ pháp lý rõ ràng về chủ thể yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật, chế tài hành chính và cấu thành tội phạm hình sự liên quan đến chế độ hôn nhân một vợ, một chồng.
Phần nội dung đáng tham khảo nhất của công trình là Chương 1 về sự tiến hóa của chế định cấm kết hôn qua các thời kỳ lịch sử và Chương 2 về phân tích chi tiết 6 trường hợp cấm kết hôn theo Luật năm 2014 gắn liền với cơ sở khoa học y sinh học và luân lý xã hội.
Câu hỏi thường gặp
1. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có còn cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính như luật cũ hay không?
Không. Khác với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tại khoản 2 Điều 8 quy định: "Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính". Đây là điểm mới thể hiện sự cởi mở và tiếp cận xu thế pháp luật tiến bộ trên thế giới, chuyển từ hình thức "cấm đoán" sang "không thừa nhận" hiệu lực pháp lý.
2. Cơ sở y học của việc pháp luật cấm kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi ba đời là gì?
Kết hôn cận huyết thống trong phạm vi ba đời làm tăng tỷ lệ kết hợp gen lặn bệnh lý, dẫn đến nguy cơ cao sinh con bị dị dạng xương, thiểu năng trí tuệ, phình to bụng, bạch tạng, thiếu men G6PD, hồng cầu liềm. Đặc biệt, trẻ em sinh ra từ cha mẹ cận huyết có tới 50% khả năng mang gen bệnh và 25% nguy cơ mắc bệnh tan máu bẩm sinh di truyền (Thalassemia) thể nặng, gây suy thoái giống nòi.
3. Pháp luật Việt Nam có tiền lệ công nhận trường hợp một người có hai vợ hoặc hai chồng mà không bị xem là vi phạm điều cấm hay không?
Có. Đây là trường hợp đặc thù mang tính lịch sử do hoàn cảnh chiến tranh được giải quyết theo Thông tư số 60/1978/TT-TATC ngày 22/02/1978 của Tòa án nhân dân tối cao (được tái khẳng định tại Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP), áp dụng cho cán bộ, bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc năm 1954 đã có vợ/chồng ở miền Nam nhưng lấy thêm vợ/chồng khác ở miền Bắc.
4. Khi Tòa án tuyên hủy việc kết hôn trái pháp luật thì quan hệ con chung và tài sản được giải quyết ra sao?
Theo Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, hai bên phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng; quyền và nghĩa vụ đối với con chung được giải quyết như khi ly hôn (con dưới 36 tháng tuổi ưu tiên giao mẹ nuôi theo Điều 81); quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo thỏa thuận, trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự và các luật liên quan (Điều 16).
5. Người yêu cầu đăng ký kết hôn không nộp lại được giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã cấp trước đó thì cơ quan hộ tịch xử lý thế nào?
Theo hướng dẫn tại Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và Thông tư số 04/2020/TT-BTP, người yêu cầu phải trình bày rõ lý do. Trong 03 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, cơ quan hộ tịch có văn bản gửi nơi dự định đăng ký trước đây để xác minh; nếu không nhận được kết quả hoặc không xác minh được, cơ quan hộ tịch cho phép người yêu cầu lập văn bản cam đoan về tình trạng hôn nhân và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Hà Thu đã nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định cấm kết hôn trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Công trình làm sáng tỏ các căn cứ đạo đức, y học và xã hội học của 6 trường hợp cấm kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đồng thời hệ thống hóa đồng bộ các chế tài xử lý vi phạm trong pháp luật dân sự, hành chính và hình sự. Đây là tài liệu chuyên khảo có giá trị cao trong học tập, nghiên cứu luật học cũng như phục vụ công tác áp dụng pháp luật trong đăng ký hộ tịch và giải quyết các vụ việc hôn nhân tại cơ sở.