mở đầu cho một lịch sử hào hùng. Thịnh suy theo đó nối tiếp nhau từ triều đại này sang triều đại khác. Ý thức giữ gìn và củng cố chính quyền độc lập càng đƣợc khẳng định qua từng cuộc chiến chống giặc ngoại xâm anh dũng đầy máu và nƣớc mắt. Mặc dù các triều đại phong kiến đều lấy lợi ích của nhân dân là nhiệm vụ hàng đầu nhƣng không tránh khỏi những mâu thuẫn về quyền lợi đối với ngƣời dân và những tranh chấp trong chính nội bộ tập đoàn cầm quyền.
Sự hƣng thịnh hay suy vong của từng triều đại là điều không thể tránh khỏi. Cuối thế kỷ XIV - đầu thế kỷ XV, một cuộc khủng hoảng chính trị lớn đã xảy ra khi Hồ Quý Ly cƣớp ngôi nhà Trần (năm 1400). Vì không đƣợc lòng dân nên khi giặc Minh mƣợn cớ “Phù Trần diệt Hồ” (năm 1407) thì nhà Hồ nhanh chóng bị tiêu diệt bởi không gắn kết đƣợc lòng dân để phát huy sức mạnh to lớn của quần chúng. Đất nƣớc từ đó chìm sâu trong sự thống trị tàn ác và vô cùng phản động của quân xâm lƣợc.
Giặc Minh ra sức cƣớp bóc, đốt phá, giết ngƣời tàn bạo, thuế má hà lạm, phu phen nặng nề. Tệ hại hơn cả là kho tàng văn hóa quý báu của nƣớc ta cũng bị tàn phá nặng nề. Giặc Minh cố tình thu vét hết tất cả những văn hóa phẩm bằng lòng tham vô đáy đem về Kim Lăng, những gì không mang đi đƣợc thì chúng phá hủy không thƣơng tiếc. Các cuộc khởi nghĩa lần lƣợt nổ ra.
Đến năm 1418, Lê Lợi đã phất cờ khởi nghĩa với sự ủng hộ to lớn từ niềm tin và lòng yêu nƣớc của toàn thể nhân dân. Mƣời năm bị đè nặng bởi gông cùm tàn bạo của giặc Minh, lại thêm mƣời năm gian khổ cùng Lê Lợi chiến đấu, cuối cùng nhân dân ta cũng giành đƣợc 13 độc lập. Tinh thần yêu nƣớc và tự hào về cuộc chiến chống giặc anh dũng sôi sục trong lòng ngƣời nửa đầu thế kỷ XV. Điều đó thể hiện rất rõ trong văn chƣơng với hào khí yêu nƣớc chống giặc, với sự ngợi ca về một đất nƣớc giàu đẹp thanh bình, non sông gấm vóc trù phú.
Đất nƣớc đi vào tái thiết lập mọi mặt của đời sống. Việc khôi phục, sƣu tập và biên soạn các tác phẩm thơ văn trƣớc thế kỷ XV cũng đƣợc chú ý, nhất là những tác phẩm bị thiên tai và chiến tranh làm hƣ hại, thất lạc. Trải qua các đời vua Lê, từ Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông đến Lê Nhân Tông, tình hình nhà nƣớc vẫn còn nhiều tranh chấp và mâu thuẫn nội bộ. Đây chính là chặng đƣờng đầu trong quá trình xây dựng lại Nhà nƣớc phong kiến mới.
Thế kỷ XV, tƣ tƣởng Nho giáo đã hoàn toàn chi phối đời sống xã hội cũng nhƣ văn học. Ý thức văn học Phật giáo và Lão Trang vẫn còn tồn tại nhƣng đƣợc đồng hóa vào ý thức Nho giáo với những nét tích cực. Nho giáo đƣợc đề cao và trở thành tƣ tƣởng thống trị. Nho sĩ và các tầng lớp trí thức đƣợc trọng dụng và là đại diện cho nhà nƣớc phong kiến.
Đồng thời họ cũng là lực lƣợng chủ chốt trong việc sáng tác văn chƣơng lúc bấy giờ. Các tác gia tiêu biểu có thể kể đến nổi bật hàng đầu là Nguyễn Trãi, ngoài ra còn có Lý Tử Tấn, Vũ Mộng Nguyên, Nguyễn Mộng Tuân, Nguyễn Trực… Năm 1459, Lê Thánh Tông lên ngôi, bộ máy chính quyền đã thực sự vững mạnh và trƣởng thành, mọi quyền lực tập trung vào tay của nhà vua. Vua Lê Thánh Tông đã thực hành những chính sách hợp lý để củng cố bộ máy cai trị, xác định trật tự xã hội mới với bộ luật Hồng Đức, tổ chức lại quân đội và quốc phòng, thi hành các chính sách khuyến nông nhằm nâng cao đời sống ngƣời dân. Nhờ đó xã hội dần đi vào ổn định, hậu quả chiến tranh dần đƣợc khắc phục, đời sống con ngƣời yên ổn và có quy củ.
Nhất là nhà nƣớc vẫn rất mực đề cao Nho giáo từ tƣ tƣởng đến giáo dục và cả trong văn chƣơng. Quá trình đào tạo nhân tài nho sĩ cho bộ máy chính quyền cùng với việc tổ chức thi cử ngày càng quy mô và mở rộng. Văn học Việt Nam thế kỷ XV đƣợc xem là giai đoạn phát triển mạnh mẽ rực rỡ trong thời kỳ hƣng thịnh bậc nhất của văn học trung đại Việt Nam. Lúc này thơ ca đƣợc nhà nƣớc đề cao đẩy mạnh.
Chỉ trong một thế kỷ mà hàng ngàn bài thơ 14 đƣợc ghi chép lại, chƣa kể những bài bị thất thoát hoặc chƣa đƣợc tìm thấy. Nếu nửa đầu thế kỷ XV, văn chƣơng tập trung vào mảng văn học yêu nƣớc chống ngoại xâm và tự hào dân tộc thì văn học nửa sau thế kỷ tuy vẫn còn sục sôi tinh thần và ý chí chiến đấu anh hùng của giai đoạn trƣớc nhƣng càng về sau càng dịu xuống và hƣớng đến những vấn đề khác. Thơ dần đi sâu việc ngợi ca vẻ đẹp non sông đất nƣớc thanh bình, bộc lộ lòng tự hào dân tộc và đẩy mạnh phục vụ cho lợi ích vật chất và nhu cầu tinh thần của giai cấp thống trị phong kiến. Vì vậy văn học dần thiên về ca tụng, thù phụng một cách quá độ mang tính chất quan phƣơng – cung đình.
Văn chƣơng nghệ thuật lên ngôi nhƣng các sáng tác nghệ thuật lại phục vụ cho mục đích chính trị thì không thể tránh khỏi những khuôn sáo, quy củ, và hình thức. Mặc dù vậy thơ văn nửa sau thế kỷ XV đã đóng góp nhiều giá trị cho nền văn học dân tộc. Rất nhiều tên tuổi tài năng xuất hiện bên cạnh vua Lê Thánh Tông nhƣ: Nguyễn Trực, Lê Hoằng Dục, Nguyễn Bảo, Thái Thuận, Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận, Đàm Văn Lễ, Nguyễn Nhân Phùng, Vƣơng Sƣ Bá… Lê Thánh Tông còn đích thân tập hợp 28 vị văn thần và thành lập Hội Tao đàn năm 1495 (niên hiệu Hồng Đức thứ 26) - một hội thơ dƣới dạng hình thức xƣớng họa độc đáo. Lê Thánh Tông là chủ soái Tao đàn, Thân Nhân Trung và Đỗ Nhuận làm Tao đàn phó nguyên súy, Thái Thuận làm Tao đàn sái phu.
Hội Tao đàn mặc dù chỉ tồn tại đƣợc 3 năm cuối đời Lê Thánh Tông nhƣng đã để lại rất nhiều bài thơ cho nền thi ca nƣớc nhà. Sự ra đời của hội là sự thúc đẩy mạnh mẽ cho phong trào sáng tác thơ ca cung đình. Các tác phẩm đƣợc xem là có giá trị phần nhiều vẫn là đề tài về non sông, tình yêu quê hƣơng đất nƣớc, truyền thống anh dũng hào hùng của dân tộc và tài năng đức độ của các đấng quân vƣơng. Những vần thơ xƣớng họa cung đình đƣợc đẩy mạnh với sự ảnh hƣởng của tƣ tƣởng Nho giáo khiến hình ảnh con ngƣời và sự vật đƣợc lọc qua một mỹ cảm nghệ thuật đa sắc và đầy tính triết lý.
Thơ ca vì vậy rất chuẩn mực, quy phạm, sa vào ca tụng đầy tính công thức và đậm màu Nho. Trong dòng chung của văn học cung đình chủ yếu là ca tụng thù phụng vẫn nổi lên một số tác giả với những nét độc đáo riêng nhƣ Nguyễn Trực với tính phóng 15 khoáng thoát hẳn khỏi những khuyên sáo cung đình. Nguyễn Bảo với lối thơ mộc mạc đầy sức sống, giản dị, trọng hậu, có khí cốt. Vƣơng Sƣ Bá với những bài thơ đậm chất triết lý và nặng về những suy nghĩ thâm sâu.
Thơ Đàm Văn Lễ lại có những nét buồn đầy giao cảm với thiên nhiên và khác xa với lối ngâm vịnh bấy giờ. Và thơ Thái Thuận với những tứ thơ mới lạ độc đáo tân kỳ nhƣng cũng rất cổ kính, trữ tình mà không hoa lệ, thanh thoát tinh tế mà bình dị, gần gũi… Ngoài ra còn có nhiều tác gia khác có những đóng góp nhất định vào kho tàng văn học bấy giờ nhƣng phần nhiều tác phẩm của họ sa vào lối xƣớng họa cung đình tƣơng đối giống nhau, không đem lại những cảm hứng mới mẻ độc đáo cho văn chƣơng. Tiểu sử Thái Thuận Tài liệu về nhà thơ Thái Thuận còn lƣu trữ đến nay không nhiều, có phần sơ sài, ít ỏi. Phần lớn chỉ là những chi tiết cơ bản về cuộc đời và sự nghiệp của ông.
Thái Thuận 蔡順 (hay Sái Thuận, chữ Thái - 蔡 âm Hán Việt còn đọc là Sái), sinh năm 1440, chƣa rõ năm ông qua đời, tự là Nghĩa Hòa, hiệu là Lục Khê, biệt hiệu Lữ Đƣờng, ngƣời làng Liễu Lâm, huyện Siêu Loại, thừa tuyên Kinh Bắc, nay là xã Song Liễu, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Hiệu Lữ Đƣờng của nhà thơ đƣợc lấy từ tên gọi của làng Liễu Lâm quê ông. Thực ra năm sinh của Thái Thuận cũng chƣa đƣợc tìm thấy một cách chính xác nhất. Các nhà nghiên cứu chỉ căn cứ vào sách sử có ghi lại rằng ông đỗ Tiến sĩ năm 35 tuổi (1475, niên hiệu Hồng Đức thứ sáu) theo đó tính ngƣợc mà cho rằng ông sinh năm 1440, cũng có ngƣời cho ông sinh năm 1441.
Sinh ra trong một gia đình bình dân, cuộc sống Thái Thuận cũng có phần khó khăn vất vả. Ông từng làm lính dạy voi cho triều đình, nhờ việc mở rộng khoa cử mà ông đã đi thi và đỗ “Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân” khoa Ất Mùi năm 1475 và làm quan ở Nội các viện hơn hai mƣơi năm, sau đó đƣợc bổ chức Hàn lâm hiệu lý, kiêm Tham chính Hải Dƣơng. Năm Ất Mão – Hồng Đức thứ 26 (1495), Hội Tao đàn đƣợc thành lập, Thái Thuận dù không có tên chính thức trong nhị thập bát tú, chỉ làm chức Tao đàn sái phu (biên tập cho hội thơ) nhƣng thơ ông cũng đƣợc nhà vua khen ngợi nhiều. Có ý kiến cho rằng sau này Thái Thuận còn đƣợc phong làm Tao đàn phó nguyên soái.
Đinh Gia Khánh trong Tổng tập văn học Việt 16 Nam (tập 4) có viết: “Ông (Thái Thuận) lại còn được đặc cách giữ chức Phó nguyên súy của Hội Tao Đàn” [31, 701]. Tuy nhiên, chi tiết này đến nay vẫn còn là nghi điểm, chƣa đƣợc xác thực. Sau khi Lê Thánh Tông mất, triều chính rối ren, những thông tin cuối đời của Thái Thuận cũng không đƣợc ghi chép lại, năm mất của ông vì vậy không rõ. Theo Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục, thì Thái Thuận “giữ công việc ở Viện Hàn lâm 24 năm” [55, 320], nghĩa là đến khoảng năm 1499 Thái Thuận không còn làm quan.
Trong truyện ký “Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa” (Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, thế kỷ XVI) có nhắc đến Thái Thuận tiên sinh và tập thơ Lã Đường thi tập vào cuối đời Đoan Khánh, mà Đoan Khánh là niên hiệu đời vua Lê Uy Mục (từ năm 1505 đến 1509).