Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cuối năm 2021, đầu năm 2022, nền kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn phục hồi hậu giãn cách xã hội do dịch Covid-19. Số lượng doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động gia tăng rõ rệt ở tất cả các lĩnh vực, kéo theo nhu cầu huy động vốn từ hệ thống ngân hàng thương mại tăng cao. Chính sách ưu đãi lãi suất của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong bối cảnh này đặt ra áp lực kép cho các tổ chức tín dụng (TCTD): vừa mở rộng cho vay để hỗ trợ doanh nghiệp, vừa phải kiểm soát chặt rủi ro tín dụng và nợ xấu có xu hướng gia tăng.

Trong bối cảnh đó, tác giả Lê Nho Dũng nhận thấy công tác phân tích báo cáo tài chính (BCTC) khách hàng doanh nghiệp (KHDN) tại Ngân hàng TMCP Á Châu – PGD Huỳnh Thúc Kháng còn tồn đọng những vấn đề chưa hoàn thiện về thông tin số liệu, phương pháp phân tích và nội dung phân tích. Đây là cơ sở thực tiễn để tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu trong thời gian thực tập tại đơn vị.

Mục tiêu nghiên cứu gồm ba vấn đề cơ bản được tác giả xác định:

  1. Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp và chất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay tại ngân hàng thương mại (NHTM).
  2. Tìm hiểu thực trạng và đưa ra đánh giá chất lượng phân tích tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Á Châu – PGD Huỳnh Thúc Kháng.
  3. Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác phân tích tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay tại đơn vị nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu là chất lượng phân tích BCTC KHDN trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Á Châu – PGD Huỳnh Thúc Kháng. Phạm vi không gian giới hạn tại PGD Huỳnh Thúc Kháng trực thuộc Chi nhánh Hoàng Cầu, Hà Nội. Phạm vi thời gian tập trung vào giai đoạn 2019–2021.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết

Khóa luận xây dựng khung lý thuyết dựa trên định nghĩa phân tích tài chính doanh nghiệp của Ngô Kim Phượng và cộng sự (2017) — theo đó đây là quá trình nghiên cứu nội dung, kết cấu và mối ảnh hưởng qua lại của các chỉ tiêu trên BCTC nhằm đánh giá tình hình tài chính và hỗ trợ ra quyết định — kết hợp với quan điểm phân tích tài chính trong vai trò công cụ cho vay của NHTM (Lê Thị Xuân, 2013).

Tác giả hệ thống hóa hai nhóm đối tượng sử dụng phân tích tài chính: nhà quản lý doanh nghiệp và người bên ngoài doanh nghiệp (nhà đầu tư, người cho vay). Các mô hình và công cụ được trình bày bao gồm: mô hình phân tích DuPont (được phát triển tại DuPont Corporation từ những năm 1920), phân rã ROE thành ba thành phần — biên lợi nhuận ròng, vòng quay tổng tài sản và đòn bẩy tài chính — cùng hệ thống các tỷ số tài chính thuộc bốn nhóm: khả năng thanh toán, hiệu quả sử dụng tài sản, khả năng sinh lời và cơ cấu tài chính.

Tiêu chí đánh giá chất lượng phân tích BCTC được xem xét trên ba chiều: thời gian phân tích, khả năng xác định điểm mạnh/điểm yếu tài chính của doanh nghiệp, và mức độ hỗ trợ ra quyết định cho vay thông qua phần mềm xếp hạng tín dụng nội bộ.

Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận thuộc loại nghiên cứu lý luận – thực trạng – giải pháp (không phải nghiên cứu định lượng hay thực nghiệm). Các phương pháp cụ thể gồm:

  • Tổng hợp tài liệu: kế thừa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về phân tích BCTC.
  • Quan sát thực tế: trực tiếp học hỏi nghiệp vụ cấp tín dụng KHDN trong thời gian thực tập.
  • Thu thập số liệu thứ cấp: lấy từ BCTC của doanh nghiệp đi vay (cụ thể là công ty Minh Việt được dùng làm ví dụ thực tế) và số liệu nội bộ của PGD Huỳnh Thúc Kháng giai đoạn 2019–2021.
  • So sánh và phân tích: so sánh số tuyệt đối và số tương đối, phương pháp phân tổ theo kỳ hạn/lĩnh vực/hình thức đảm bảo.

Nguồn dữ liệu: báo cáo quản trị nhân lực năm 2021, số liệu tổng hợp nội bộ của ACB – PGD Huỳnh Thúc Kháng, BCTC của công ty Minh Việt, và dữ liệu phân loại nợ theo chuẩn của Trung tâm Cổng thông tin tín dụng Quốc gia (CIC).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về công tác phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay tại hệ thống các ngân hàng thương mại

Chương 1 lược khảo các công trình tiêu biểu trong và ngoài nước. Trong nước, các nghiên cứu nền tảng gồm Nguyễn Văn Công, Trần Quý Liên và Nguyễn Năng Phúc (2002), Nghiêm Văn Lợi (2003); các nghiên cứu chuyên sâu hơn của Trần Thị Minh Hương (2008), Nguyễn Văn Hậu (2009), Mai Khánh Vân (2016), Lương Thùy Trang (2015). Đáng chú ý, Nguyễn Thị Yến Nhi (2016) áp dụng mô hình hồi quy nhận diện sáu biến tác động đến khả năng trả nợ của KHDN tại MB Bank. Các công trình quốc tế tham chiếu gồm Peter Walton (2000), Revsine – Johnson (2002), Clyde P. Wahlen (2004) và Baginski – Bradshaw (2010). Liên quan trực tiếp đến ACB, tác giả kế thừa hai công trình khóa luận của Đoàn Văn Hậu (2016) tại PGD Trần Duy Hưng và Nguyễn Văn Bách (2021) tại Chi nhánh Đông Đô – PGD Hà Đông, đồng thời bổ sung nghiên cứu tại PGD Huỳnh Thúc Kháng vốn chưa được khảo sát.

Phần cơ sở lý luận trình bày đầy đủ khái niệm, mục đích, năm phương pháp phân tích (so sánh, phân chia, liên hệ cân đối, phân tích nhân tố, DuPont), nội dung phân tích ba báo cáo cốt lõi (bảng CĐKT, báo cáo KQHĐKD, báo cáo LCTT), hệ thống tỷ số tài chính bốn nhóm, và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng phân tích — gồm nhân tố nội sinh (quy trình, thông tin, phương pháp, trình độ cán bộ) và nhân tố ngoại sinh (môi trường kinh tế–chính trị–pháp lý, hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành).

Chương 2: Thực trạng công tác phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Á Châu – PGD Huỳnh Thúc Kháng

Chương 2 giới thiệu ACB thành lập ngày 24/04/1993, niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội từ ngày 21/11/2006, tính đến 31/12/2021 có tổng tài sản hơn 527 nghìn tỷ đồng, nằm trong top 10 ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất, duy trì hơn 10.000 cán bộ tại trên 350 chi nhánh/PGD. PGD Huỳnh Thúc Kháng là một trong năm PGD thuộc Cụm Hoàng Cầu, tọa lạc tại số 29 đường Huỳnh Thúc Kháng, quận Đống Đa, Hà Nội, có hơn 30 nhân viên tính đến Quý I/2022.

Về hoạt động huy động vốn, tổng quy mô huy động năm 2021 đạt hơn 620 tỷ đồng, tăng 15% so với năm 2020. Bộ phận KHCN chiếm hơn 75% với 479,7 tỷ đồng (tăng 16,67%), bộ phận KHDN đạt 140,6 tỷ đồng (tăng 10%).

Về hoạt động cho vay, tổng dư nợ năm 2021 đạt 875,5 tỷ đồng, tăng 26,12% so với năm 2020, với mức tăng trưởng bình quân giai đoạn 2019–2021 khoảng 24%. Dư nợ KHDN đạt 433,6 tỷ đồng, tăng gần 35% so với năm 2020. Cơ cấu dư nợ KHDN theo kỳ hạn nghiêng mạnh về ngắn hạn: năm 2021, cho vay ngắn hạn chiếm 84,41% (366 tỷ đồng), trung và dài hạn chỉ còn 15,59%. Theo lĩnh vực, thương mại dịch vụ vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất (58,72% năm 2021), trong khi tỷ lệ doanh nghiệp sản xuất tăng từ 16,26% (2019) lên 22,44% (2021). Toàn bộ dư nợ đảm bảo bằng hình thức thế chấp chiếm trên 95%. Tỷ lệ nợ xấu duy trì ổn định quanh mức 1,71% (2019) và được kiểm soát đều qua các năm. Lợi nhuận trước thuế năm 2021 đạt 35,27 tỷ đồng, tăng 33% so với năm 2020.

Chương 2 phân tích thực trạng quy trình phân tích BCTC tại ACB — từ tiếp nhận hồ sơ tại PGD, trình lên trưởng phòng KHDN hoặc giám đốc PGD phê duyệt lần 1, qua bộ phận hỗ trợ tín dụng phê duyệt lần 2, đến bộ phận thẩm định hội sở phê duyệt lần cuối — cùng các nguồn thông tin thu thập (BCTC thuế hoặc kiểm toán 3 năm gần nhất, bảng sao kê, tờ khai VAT, ĐKKD, lịch sử tín dụng CIC). Phương pháp chủ đạo là so sánh kết hợp phân tích tỷ số tài chính (thanh khoản hiện hành, nợ vay/vốn chủ sở hữu, nợ phải trả/tổng tài sản, vòng quay vốn lưu động, tỷ suất sinh lời trên doanh thu). Ví dụ thực tế được minh họa qua phân tích BCTC công ty Minh Việt, bao gồm báo cáo KQHĐKD, bảng CĐKT và báo cáo LCTT.

Điểm mạnh được ghi nhận bao gồm quy trình phân tích đa cấp đảm bảo kiểm soát rủi ro, đội ngũ chuyên viên KHDN có kinh nghiệm, và ứng dụng phần mềm xếp hạng tín dụng nội bộ. Các hạn chế còn tồn đọng gồm: nguồn thông tin phụ thuộc vào BCTC do doanh nghiệp cung cấp (chưa qua kiểm toán độc lập trong nhiều trường hợp), phương pháp phân tích còn đơn thuần (chủ yếu so sánh, chưa áp dụng DuPont hay phân tích vốn lưu động chuyên sâu), và nội dung phân tích báo cáo LCTT chưa đi sâu vào các chỉ tiêu dòng tiền cụ thể.

Chương 3: Đề xuất giải pháp giúp hoàn thiện công tác phân tích tài chính doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Á Châu – PGD Huỳnh Thúc Kháng

Chương 3 đề xuất bốn nhóm giải pháp cụ thể: (1) hoàn thiện nguồn thông tin — đa dạng hóa kênh thu thập, tăng cường đối chiếu với dữ liệu CIC và thông tin ngành; (2) hoàn thiện phương pháp phân tích — bổ sung phân tích DuPont và phân tích vốn lưu động (minh họa qua Bảng 3.1, 3.2, 3.3 về công ty Minh Việt); (3) hoàn thiện nội dung phân tích BCTC — tăng cường phân tích báo cáo LCTT, bổ sung phân tích các chỉ số hiệu quả hoạt động kinh doanh (Bảng 3.4, 3.5); (4) hoàn thiện quy trình và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ phân tích. Ngoài ra, tác giả đưa ra kiến nghị ba cấp: Chính phủ, NHNN và Hội sở ACB.


Kết quả và đóng góp

Kết quả chính có số liệu trong văn bản:

Chỉ tiêu 2019 2020 2021
Tổng dư nợ PGD (tỷ đồng) — — 875,5
Dư nợ KHDN (tỷ đồng) 265,7 — 433,6
Tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ 1,71% ~1% ~1%
Lợi nhuận trước thuế (tỷ đồng) — — 35,27
Tổng huy động (tỷ đồng) — — >620

Giải pháp tác giả đề xuất tập trung vào bổ sung phân tích DuPont, phân tích vốn lưu động thường xuyên và nhu cầu vốn lưu động, đi sâu phân tích báo cáo LCTT theo bốn bước (đánh giá nguồn thu/chi chủ yếu, nhân tố HĐKD, nhân tố đầu tư, nhân tố tài chính), đồng thời nâng cao chất lượng thông tin đầu vào và năng lực cán bộ phân tích.

Đóng góp so với nghiên cứu trước: tác giả kế thừa và cập nhật cơ sở dữ liệu giai đoạn 2019–2021 (thay thế dữ liệu cũ từ các nghiên cứu 2016–2021 tại các PGD khác của ACB), đồng thời lần đầu tiên thực hiện đánh giá công tác phân tích BCTC KHDN tại riêng PGD Huỳnh Thúc Kháng.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận không nêu tường minh các hạn chế trong phần kết luận. Dựa trên phạm vi nghiên cứu, một số giới hạn có thể nhận thấy là: dữ liệu thực trạng giới hạn ở một PGD đơn lẻ, chưa thể so sánh đại diện cho toàn hệ thống ACB; ví dụ thực tế chỉ dựa trên một doanh nghiệp (công ty Minh Việt), chưa cho phép kiểm định tính đại diện của các phát hiện; thời gian thực tập có hạn dẫn đến một số số liệu trong bảng thống kê chưa đầy đủ (tác giả thừa nhận các nhóm nợ không được thống kê đầy đủ trong Bảng 2.4). Hướng mở rộng có thể theo đuổi là so sánh chất lượng phân tích BCTC KHDN trên mẫu lớn hơn gồm nhiều PGD hoặc chi nhánh ACB, hoặc ứng dụng mô hình định lượng đánh giá xác suất vỡ nợ tương tự nghiên cứu của Nguyễn Thị Yến Nhi (2016).


Giá trị tham khảo

Khóa luận phù hợp làm tài liệu tham khảo cho các nhóm đối tượng sau:

  • Sinh viên ngành tài chính – ngân hàng đang thực tập hoặc làm khóa luận về hoạt động tín dụng doanh nghiệp tại NHTM, đặc biệt tại ACB hoặc các ngân hàng TMCP có cơ cấu tổ chức tương tự.
  • Sinh viên ngành kế toán, tài chính doanh nghiệp muốn hiểu cách NHTM đọc và đánh giá BCTC dưới góc độ người cho vay.
  • Người làm đề tài tương tự tại các PGD khác của ACB, có thể sử dụng trực tiếp khung phân tích và hệ thống chỉ tiêu được trình bày tại Chương 1 làm cơ sở lý luận.

Phần đáng tham khảo nhất là Chương 1 (hệ thống lý luận đầy đủ về phương pháp và nội dung phân tích BCTC trong ngân hàng) và Chương 2 (mô tả chi tiết quy trình phân tích thực tế nhiều cấp tại ACB cùng ví dụ minh họa qua công ty Minh Việt).


Câu hỏi thường gặp

1. PGD Huỳnh Thúc Kháng sử dụng phương pháp phân tích BCTC nào trong thực tế? PGD chủ yếu sử dụng phương pháp so sánh (so sánh số liệu qua các năm) kết hợp với phân tích một số tỷ số tài chính gồm: tỷ số thanh khoản hiện hành, tỷ lệ nợ vay/vốn chủ sở hữu, tỷ lệ nợ phải trả/tổng tài sản, vòng quay vốn lưu động và tỷ suất sinh lời trên doanh thu. Phân tích DuPont và phân tích chuyên sâu báo cáo LCTT chưa được áp dụng thường xuyên.

2. Tỷ lệ nợ xấu KHDN tại PGD Huỳnh Thúc Kháng trong giai đoạn 2019–2021 ở mức nào? Tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ KHDN năm 2019 ghi nhận ở mức 1,71% và được duy trì ổn định quanh mức 1% trong các năm tiếp theo (2020–2021), phản ánh chất lượng tín dụng được kiểm soát ổn định dù quy mô dư nợ tăng trưởng mạnh.

3. Cơ cấu dư nợ KHDN theo lĩnh vực có sự thay đổi như thế nào từ 2019 đến 2021? Dư nợ lĩnh vực thương mại dịch vụ giảm tỷ trọng từ 62,48% (2019) xuống 58,72% (2021); xây dựng giảm từ 21,26% xuống 18,84%; trong khi doanh nghiệp sản xuất tăng đáng kể từ 16,26% lên 22,44%, phản ánh định hướng tín dụng dịch chuyển sang sản xuất trong giai đoạn phục hồi kinh tế hậu Covid.

4. Quy trình phê duyệt khoản vay KHDN tại ACB gồm bao nhiêu cấp và diễn ra như thế nào? Quy trình gồm ba cấp: (1) chuyên viên quan hệ KHDN tại PGD/chi nhánh phân tích và trình kết quả lên trưởng phòng KHDN hoặc giám đốc PGD phê duyệt lần 1; (2) bộ phận hỗ trợ tín dụng kiểm tra và phê duyệt lần 2; (3) bộ phận thẩm định hội sở phê duyệt lần cuối và trả kết quả về PGD/chi nhánh kèm theo ý kiến đồng ý hoặc yêu cầu sửa đổi phương án.

5. Lợi nhuận trước thuế của PGD Huỳnh Thúc Kháng năm 2021 đạt bao nhiêu và tăng trưởng như thế nào? Lợi nhuận trước thuế năm 2021 đạt 35,27 tỷ đồng, tăng 33% so với năm 2020. Nguồn thu lớn nhất đến từ phí các hoạt động dịch vụ (chiếm hơn 50% cơ cấu thu, tăng trưởng bình quân khoảng 30%/năm), tiếp theo là thu từ hoạt động cho vay đạt 20,5 tỷ đồng năm 2021 (tăng 26,5% so với 2020).


Kết luận

Khóa luận của Lê Nho Dũng (2022) cung cấp một đánh giá toàn diện về thực trạng công tác phân tích BCTC KHDN trong hoạt động cho vay tại ACB – PGD Huỳnh Thúc Kháng giai đoạn 2019–2021, từ đó chỉ ra các hạn chế cụ thể về nguồn thông tin, phương pháp và nội dung phân tích. Nghiên cứu đề xuất bốn nhóm giải pháp thiết thực — bổ sung phân tích DuPont, phân tích vốn lưu động, đi sâu vào dòng tiền và nâng cao năng lực cán bộ — kết hợp với kiến nghị ba cấp gửi đến Chính phủ, NHNN và Hội sở ACB. Công trình có giá trị kế thừa từ các nghiên cứu cùng chủ đề tại ACB giai đoạn trước và bổ sung tài liệu thực địa cho PGD Huỳnh Thúc Kháng, đơn vị chưa từng được khảo sát trong các nghiên cứu công bố trước đó.