Chương 1: Khái quát về xử lý tài sản bảo đảm trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại và pháp luật điều chỉnh. - Chương 2: Thực trạng pháp luật về xử lý tài sản bảo đâm trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại và thực tiễn áp dụng tại Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex. - Chương 3: Phương hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại và nâng cao hiệu quả thực hiện tại Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex (PG Bank). KHÁI QUÁT VE XU LÝ TÀI SAN BAO DAM TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ PHAP LUẬT DIEU CHỈNH 1.
Khái niệm tài sản bảo đảm Đối với hoạt động cho vay của các NHTM thì TSBĐ có nghĩa rất quan trọng, là cơ sở bảo đảm cho khoản nợ của khách hàng tại các ngân hàng khó trở thành khoản nợ xấu, từ đó dam bảo nguồn vốn lưu động của các ngân hàng luôn én định. Do đó, có thể hiểu TSBĐ là các loại tài sản mà bên bảo đảm dùng để cầm có, thế chấp, ký quỹ nhằm bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc nghĩa vụ khác của chính bên bao đảm và/hoặc bên khác với NHTM. Mặt khác, TSBD có thể hiểu là tài sản thuộc quyển sở hữu của bên bảo dam hoặc người thứ ba nếu bên bảo dam, bên nhận bảo đảm và người thứ ba có thỏa thuận và tài sản này phải được phép giao dịch mà không có tranh chấp. Từ điển Luật học cũng đưa ra khái niệm TSBD là “fai san được bên bảo dam ding dé bao dam thuc hién nghia vu đối với bên nhận bảo dam thông qua các biện pháp bao dam nh.
cầm cố, thé chấp, bao lãnh, kí cược, kí quỹ, đặt coc. vl Trước đây, hệ thống pháp luật dân sự ở đây là BLDS năm 2005 đã đưa ra cum từ “vật bảo đảm”, căn cứ quy định tại Điều 320 Bộ luật này đã nêu ra vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự: “phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo dam va được phép giao dich và là vật hiện có hoặc được hình thành trong tương lai”. Mặc dù, hệ thống pháp luật Việt Nam đã có sự quan tâm hơn đối với các quy định liên quan đến tài san bảo dam bằng việc sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế các văn bản quy phạm pháp luật cũ. Tuy nhiên, đối với khái niệm về TSBD thì pháp luật chưa đưa ra quy định cụ thể đối với thuật ngữ này mà chỉ quy định về những đặc điểm của TSBD tai Điều 295 BLDS năm 2015 dé nhận biết.
Như vậy, theo quan điểm của tác giả thì có thể hiểu tài san bảo dam “Ja các loại tài sản mà Bên bao dam ding dé cầm có, thé chấp, bao lãnh, kí cược, ki quỹ, 1 Bộ Tư pháp, Viện Khoa học pháp lý, Từ điển Luật học, NXB.Từ điển Bách khoa — Nxb. nhằm bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ trả no/nghia vụ khác của chính Bên bảo dam và/hoặc bên khác với Bên nhận bảo đảm”. Mô tả tai sản bảo dam: Tài san bao dam có thé được mô ta chung nhưng phải xác định được. Do tài sản đảm bảo luôn có sự thay đổi, biến động về số lượng, chúng loại và giá trị hàng hóa.
Đối với quy định về việc mô tả TSBĐ, BLDS năm 2015 đã tiếp cận theo hướng mở rộng cho phép khai thác tối đa các loại tài sản có thể được sử dụng làm đổi trong TSBD. Theo đó, TSBD có thé được mô ta chung, nhưng phải xác định được tài sản”. Tuy nhiên, BLDS năm 2015 chưa làm rõ tiêu chí “xác định được tài sản” ở đây là như thế nào? Do đó, để có thể làm rõ tiêu chí này thì quy định tại Điều 9 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP/2021/NĐ-CP đã được ban hành bằng cách liệt kê rất chi tiết, cụ thể các yêu cầu đặt ra để thoả mãn tiêu chí “nhưng phải xác định được tài sản” của BLDS năm 2015: - Một, nguyên tắc mô tả tài sản là sự thoả thuận của Bên bảo đảm và Bên nhận bảo đảm; - Hai, đối với TSBD là động san, bất động sản có đăng ký quyền sở hữu thì việc mô tả tài sản phải là các thông tin trên Giấy chứng nhận; - Ba, đối với TSBD là quyển tài sản thi mô ta tài sản phải thé hiện được tên, căn cứ pháp lý phát sinh quyên tai san nay; - Bốn, mô tả tài sản là vật mà vật này có vật phụ, vật đồng bộ, vat đặc định; - Năm, mô tả TSBD là giấy tờ có giá, chứng khoán, số dư tiền gửi. Điều 13 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP chỉ đưa ra nguyên tắc duy nhất là mô tả TSBD phải phi hợp các quy định pháp luật về giấy tờ có giá, chứng khoán, ngân hàng.
Đây là ba loại tài sản riêng biệt mà trong BLDS năm 2015 hiện hành không có quy định để làm cơ sở cho luật riêng quy định; - Sáu, dự án dau tư, tài sản thuộc dự án đầu tư với tư cách là TSBD cũng có các yêu cầu nhất định về sự mô tả. Tuy trong Điều 18 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP không có yêu cầu chỉ tiết về mô tả nhưng tại đoạn 3 của Điều luật nay khang ? Khoản 2 Điều 295 BLDS năm 2015. 10 định: Nếu dự án đầu tư là dự án nhà ở, dự án xây dựng công trình không phải là nhà ở, dự án khác thì khi là tài sản bảo đảm phải đảm bảo có Giấy chứng nhận, Quyết định của cơ quan nhà nước có thâm quyền hoặc căn cứ pháp lý khác và mô tả theo các thông tin trên giấy tờ nào; - Bảy, hàng hoá luân chuyên trong quá trình sản xuất, kinh doanh và kho hàng là tài sản bảo đảm. Theo đó, tại Điều 19 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP đưa ra các quy định riêng biệt về mô tả đối với loại tài sản này.
Đối với hàng hoá luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh khi mô tả thì hoặc theo giá trị tài sản hoặc theo loại hàng hoá. Như vậy, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP đã dành dung lượng nhất định hướng dẫn cho việc mô tả đối với nhiều loại tài sản bảo đảm trong quá trình các chủ thé thoả thuận về loại tài san này khi xác lập các giao dịch bảo đảm hoặc các biện pháp bảo đảm. Phân loại tài sản bảo đảm Căn cứ theo quy định pháp luật dân sự thì hiện nay TSBĐ bao gồm “vật, tiên, giấy tờ có giá và quyên tài sản, bất động sản và động sản. Trong đó bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai”.
Dựa theo quy định của BLDS năm 2015, thì Nghị định số 21/2021/NĐ-CP đã triển khai các quy định pháp luật với nội dung liệt kê chi tiết về các tài san dùng dé bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, cụ thể như sau: That nhất, TSBD là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với dat’, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP đã quy định nhận các trường hop mà quyền sử dung đất, tài sản gắn liền với đất là TSBĐ, gồm có: Việc dùng quyền sử dụng đất để bảo đâm có thê không đồng thời với tài sản gắn liền với đất và ngược lại; Tài sản gắn liền với đất không phải đăng ý và cũng chưa được đăng ký theo yêu cầu sẽ thực hiện theo thỏa thuận trong Hợp đồng bao dam; Tài san gắn liền với đất là cây hàng năm, công trình tạm trở thành TSBĐ sẽ áp dụng quy định về động sản không phải là tàu bay, tàu biển; Quyển sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất đang là bất động sản hưởng quyển ? Điều 105 BLDS năm 2015. * Điều 10 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP. 11 bất động sản liền ké được dùng làm TSBD thì quyền đối với bất động sản liền kề vẫn có hiệu lực với mọi cá nhân, pháp nhân. Bên cạnh đó, có một nội dung đáng được lưu ý tại Khoản 4 Điều 10 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP là quyển sử đụng đất không được coi là tài sản hình thành trong tương lai dù có thể các chủ thể đang thực tế chiếm hữu, sử dụng một diện tích đất đai nhất định nhưng chưa được cấp giây chứng nhận quyển sử dụng đất.
Do đó, nếu chủ thé chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì không thé coi là có quyển sử dung đất để TSBD trong các biện pháp bảo dam. Thit hai, TSBD là tài sản được tạo lập từ quyên bê mặt, quyên hưởng dung. Điều 11 và Khoản 2 Điều 26 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP đã đưa ra quy định về những tài sản được tao lập từ quyền bé mặt, quyền hưởng dụng như thé nào mới trở thành TSBĐ. Từ những quy định này và căn cứ theo các cách nhìn khác nhau sẽ có từng cách hiểu đối với dạng TSBD nay.
Dưới cách nhìn của TSBD, những tài sản được tao lập trên cơ sở quyển bề mặt, quyền hưởng dụng hoàn toàn có thé là TSBĐ. Vi dụ, chủ thé có quyền bé mặt hoàn toàn có thể xây dung các công trình xây dung khác trong khoảng không gian minh được phép có quyển để khai thác, sử dụng. Tương tự, đối với quyền hưởng dung, chủ thé có quyển hoàn toàn có thể có các tài sản khác được tạo lập từ quyền này như cho thuê tài sản hưởng dụng mình có quyền. Còn dưới cách nhìn lý luận, các tài sản này được công nhận, nhưng thực tiễn thực hiện đang có vướng mắc trong quy trình, thủ tục thực hiện các tài sản này trở thành TSBĐ.
Ví dụ như chủ thể có quyền bé mặt muốn thé chấp tài sản được tạo lập từ quyển bề mặt của mình thi chủ thé này sẽ dùng giấy tờ nào dé chứng minh và giao cho bên nhận thé chấp. Vấn dé tương tự cũng gặp phải với tài sản được tao lập từ quyền hưởng đụng trong quá trình trở thành TSBĐ. Thứ ba, TSBĐ là giấy tờ có giá, chứng khoán, số dhe tiển gửi. Căn cứ theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP thì: Giấy tờ có giá, chứng khoán, số dư tiền gửi tại TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được dùng dé bảo dam thực hiện nghĩa vụ.
Bên cạnh đó, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP cũng đặt ra yêu cầu về việc mô tả TSBĐ phải pha hợp với quy định của pháp luật về giấy tờ có giá, chứng 12 khoán, ngân hàng. Hơn nữa, Bên nhận bảo đảm xử lý TSBĐ là giấy tờ có giá, chứng khoản, số du tiền gửi tại TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo thỏa thuận hoặc theo quy định tại Điều 52 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP. Thit tư, TSBD là quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng.