Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cở sở lý luận về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại doanh nghiệp Chương 3: Thực trạng kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty Cổ phần Dịch Vụ Bảo Vệ Nam Kỳ SVTH: Nguyễn Thị Thanh Hương Trần Thị Thanh Tuyền Phạm Ngọc Linh Trang 4 KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD:Th.S Quách Minh Ngọc Chương 4: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty Cổ phần Dịch Vụ Bảo Vệ Nam Kỳ. SVTH: Nguyễn Thị Thanh Hương Trần Thị Thanh Tuyền Phạm Ngọc Linh Trang 5 KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD:Th.S Quách Minh Ngọc CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 2.1 Khái niệm tiền lương và các khoản trích theo lương: 2.1 Khái niệm tiền lương: Theo điều 90, luật số 10/2012/QH13 Bộ luật Lao động ban hành ngày 18 tháng 06 năm 2012 tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận. Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định.
Về tổng thể tiền lương được xem như là một phần của quá trình trao đổi giữa doanh nghiệp và người lao động. - Người lao động cung cấp cho họ về mặt thời gian, sức lao động, trình độ nghề nghiệp cũng như kỹ năng lao động của mình. - Đổi lại, người lao động nhận lại doanh nghiệp tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp xã hội, những khả năng đào tạo và phát triển nghề nghiệp của mình. Tiền lương và các khoản trích theo lương có đặc điểm sau: - Tiền lương được trả bằng tiền.
- Tiền lương được trả sau khi hoàn thành công việc căn cứ vào sản lượng và chất lượng lao động trong đó: + Số lao động được tính bằng ngày công, số lượng sản phẩm hoàn thành. + Chất lượng lao động được thể hiện thông qua năng suất lao động cao hay thấp, sản phẩm đẹp hay xấu. SVTH: Nguyễn Thị Thanh Hương Trần Thị Thanh Tuyền Phạm Ngọc Linh Trang 6 KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD:Th.S Quách Minh Ngọc 2.2 Khái niệm các khoản trích theo lương: Gắn chặt với tiền lương là các khoản trích theo lương gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn. Đây là các quỹ xã hội thể hiện sự quan tâm của toàn xã hội đối với người lao động.
Trong trường hợp người lao động tạm thời hay vĩnh viễn mất sức lao động như khi bị ốm đau, thai sản, tai nạn nhằm giảm bớt khó khăn trong cuộc sống, đó là khoản trợ cấp nhằm giảm bớt khó khăn hay tử tuất. sẽ được hưởng khoản trợ cấp nhằm giảm bớt khó khăn trong cuộc sống, đó là khoản trợ cấp bảo hiểm xã hội. Theo trang thông tin pháp luật dân sự ta có các định nghĩa sau: Bảo hiểm xã hội: là sự đảm bảo thay thế được bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm bảo đảm an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội. Bảo hiểm xã hội là trụ cột chính trong hệ thống an sinh xã hội ở mỗi nước.
Thẻ BHYT được mua từ tiền trích BHYT, đây là chế độ chăm sóc sức khoẻ cho người lao động nhằm xã hội hoá việc khám chữa bệnh, người lao động còn được hưởng chế độ khám chữa bệnh không mất tiền bao gồm các khoản chi về viện phí, thuốc men, khi bị ốm đau. Điều kiện để người lao động khám chữa bệnh không mất tiền là người lao động phải có thẻ bao hiểm y tế. KPCĐ là khoản trích nộp sử dụng với mục đích cho hoạt động của tổ chức công đoàn đảm bảo quyền lợi ích chính đáng cho người lao động. Ngoài ra để phục vụ cho hoạt động của tổ chức công đoàn được thành lập theo luật công đoàn, doanh nghiệp phải trích theo tỷ lệ quy định trên tiền lương phải trả và được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ.
BHTN là quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung – quỹ bảo hiểm thất nghiệp - được hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia ( người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước ) nhằm đảm bảo ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ khi gặp rủi ro về việc làm. BHTN không những là sự đóng góp chung rủi ro mất việc làm cùng tham gia đóng góp vào quỹ và từ quỹ đó hỗ trợ tài chính SVTH: Nguyễn Thị Thanh Hương Trần Thị Thanh Tuyền Phạm Ngọc Linh Trang 7 KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD:Th.S Quách Minh Ngọc cho mộ bộ phận nhỏ những người không may rơi vào tình trạng thất nghiệp mà còn là sự góp chung rủi ro giữa các doanh nghiệp với nhau. Tỷ lệ các khoản trích theo lương theo quy định hiện hành: Tỷ lệ các khoản trích nộp các khoản Bảo hiểm theo lương năm 2019 theo Quyết định 595/QĐ-BHXH và công văn 2159 /BHXH-BT áp dụng 01/06/2017 trở đi quy định các khoản trích theo lương như sau: Các khoản trích theo lương Trích vào Chi phí Trích vào lương Tỷ lệ của DN của NLĐ 1. Bảo hiểm xã hội (BHXH) 17.
Bảo hiểm y tế (BHYT) 3% 1. Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) 1% 1% 2% Tổng các khoản BH 21. Kinh phí Công đoàn(KPCĐ) 2% 2% TỔNG 23.5% 34% Khoản BHXH: Trích vào DN 17.5% (Trong đó: 3% vào quỹ ốm đau và thai sản, 14% vào quỹ hưu trí và tử tuất, 0.5% vào quỹ bảo hiểm lao động, tai nạn nghề nghiệp) 8% trích vào lương NLĐ ( đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất).2 Vai trò, ý nghĩa và chức năng của tiền lương: 2.1 Vai trò: Tiền lương là nguồn thu nhập chính của người lao động, là yếu tố để đảm bảo tái sản xuất xã hội, là một bộ phận đặc biệt của sản xuất xã hội. Vì vậy tiền lương đóng vai trò quyết định trong việc phát triển và ổn định kinh tế gia đình.
Trước hết tiền lương phải đảm bảo nhu cầu thiết yếu cho người lao động như ăn, ở, sinh hoạt, đi lại ,. tiền lương phải duy trì được mức sống tối tiểu cho người lao động. Chỉ khi như vậy tiền lương mới thực sự quan trọng kích thích lao động và nâng cao trách nhiệm của người lao động trong sản xuất xã hội và tái sản xuất xã hội. Đồng thời chế độ tiền lương phù hợp với sức lao động đã hao phí sẽ đem lại sự lạc quan tin tưởng vào doanh nghiệp và chế độ họ đang sống.
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Hương Trần Thị Thanh Tuyền Phạm Ngọc Linh Trang 8 KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD:Th.S Quách Minh Ngọc Như vậy tiền lương có vai trò đối với sự sống của con người từ đó là đòn bẩy kinh tế từ đó có thể phát huy tối đa năng lực để hoàn thành công việc. Khi người lao động được hưởng tiền công xứng đáng với năng lực mà họ bỏ ra thì lúc đó việc gì họ cũng sẽ làm được. Như vậy có thể nói tiền lương đã giúp nhà quản lý điều hành phân phối công việc được dễ dàng và thuận lợi. Trong doanh nghiệp việc sử dụng công cụ tiền lương ngoài mục đích tạo vật chất cho người lao động tiền lương còn có ý nghĩa lớn trong việc theo dõi kiểm tra và giám sát người lao động.
Tiền lương được sử dụng như một thước đo hiệu quả công việc, bản thân tiền lương là một bộ phận cấu thành bên chi phí sản xuất, chi phí bán hàng và chi phí quản lý trong doanh nghiệp. Vì vậy nó là yếu tố nằm trong giá thành sản phẩm và ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Với những vai trò to lớn như trên của tiền lương trong sản xuất và đời sống thì việc lựa chọn hình thức trả lương cho phù hợp với điều kiện sản xuất, đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng ngành, từng doanh nghiệp sẽ có tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy người lao động quan tâm đến kết quả lao động và hiệu quả sản xuất. Đây luôn là vấn đề nóng bỏng trong tất cả các doanh nghiệp về một chế độ tiền lương hợp lý đảm bảo được lợi ích của người lao động, người sử dụng lao động cũng như toàn xã hội.2 Ý nghĩa: Tiền lương là yếu tố cơ bản để quyết định thu nhập tăng hay giảm của nguời lao động, quyết định mức sống vật chất của nguời lao động trong mỗi doanh nghiệp.
Vì vậy, việc trả lương công bằng, chính xác và đảm bảo quyền lợi cho người lao động thì mới tạo ra sự kích thích, sự chuyên tâm của người lao động trong quá trình làm việc. Tiền lương là một chi phí của doanh nghiệp hơn nữa lại là chi phí chiếm tỷ lệ đáng kể. Mục tiêu của doanh nghiệp là tối thiểu hoá chi phí, tối đa háo lợi nhuận nhưng vẫn đảm bảo quyền lợi của người lao động. Vì vậy, việc hạch toán tiền lương một cách hợp lý giúp các nhà quản lý sử dụng quỹ lương một cách hợp lý sẽ góp phần nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp.
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Hương Trần Thị Thanh Tuyền Phạm Ngọc Linh Trang 9 KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD:Th.S Quách Minh Ngọc 2.3 Chức năng: Chức năng là công cụ quản lý doanh nghiệp Mục đích cuối cùng của các nhà quản trị là lợi nhuận cao nhất. Để đạt được mục tiêu đó họ phải biết kết hợp nhịp nhàng và quản lý một cách có nghệ thuật các yêu tố trong quy trình kinh doanh. Người sử dụng lao động có thể tiến hành kiểm tra giám sát, theo dõi người lao động làm việc theo kế hoạch, tổ chức của mình thông qua việc chi trả lương cho họ, phải đảm bảo chi phí mà mình bỏ ra phải đem lại kết quả và hiệu quả cao nhất. Qua đó nguời sử dụng lao động sẽ quản lý chặt chẽ về số lượng và chất lượng lao động của mình để trả công xứng đáng cho người lao động.
Chức năng kích thích lao động ( đòn bẩy kinh tế ) .