Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp - Chương 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty CP sản xuất và thương mại Sơn Thủy. - Chương 3: Một số biện pháp hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu của Công ty CP sản xuất và thương mại Sơn Thủy. Sinh viên: Lâm Bảo Thoa 2 Lớp: QT1807K KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHDL HẢI PHÒNG CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG DOANH NGHIỆP 1. Những vấn đề chung về nguyên vật liệu 1.
Khái niệm: - Nguyên vật liệu: Nguyên vật liệu của doanh nghiệp là đối tượng lao động mua ngoài hoặc tự chế biến dùng chủ yếu cho quá trình chế tạo ra sản phẩm. Nguyên vật liệu tham gia thường xuyên và trực tiếp vào quá trình sản xuất sản phẩm, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm. Đặc điểm: - Chỉ tham gia vào một chu kì sản xuất nhất định. - Khi tham gia vào quá trình sản xuất, dưới sự tác động của sức lao động và máy móc thiết bị nguyên vật liệu sẽ bị biến đổi hình thái vật chất ban đầu để cấu thành nên thực thể sản phẩm.
- Về mặt giá trị, khi tham gia vào quá trình sản xuất nguyên vật liệu dịch chuyển một lần toàn bộ giá trị của nó vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ. - Nguyên vật liệu được xếp vào tài sản lưu động, giá trị vật liệu thuộc vốn lưu động dự trữ. Nguyên vật liệu không hao mòn dần như tài sản cố định. - Trong quá trình sản xuất, vật liệu thường chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm nên việc quản lý quá trình thu mua, vận chuyển, bảo quản, dự trữ và sử dụng vật liệu có ý nghĩa quan trọng nhằm tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm, thực hiện tốt kế hoạch sản xuất kinh doanh.
Nhiệm vụ của kế toán nguyên vật liệu: - Ghi chép phản ánh đầy đủ kịp thời số hiện có và tình hình luân chuyển của nguyên vật liệu về giá cả và hiện vật. Tính toán đúng trị giá vốn thực tế của nguyên vật liệu nhập kho, xuất kho. - Kiểm tra tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch, phương pháp kỹ thuật về hạch toán nguyên vật liệu, phải hạch toán đúng chế độ, đúng phương pháp quy định để đảm bảo sự thống nhất trong công tác kế toán nguyên vật liệu. - Kiểm tra việc thực hiện chế độ bảo quản, kế hoạch thu mua nguyên vật liệu từ đó phát hiện ngăn ngừa và đề xuất những biện pháp xử lý nguyên vật liệu thừa, ứ đọng, kém hoặc mất phẩm chất.
Sinh viên: Lâm Bảo Thoa 3 Lớp: QT1807K KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHDL HẢI PHÒNG - Tổ chức kế toán phù hợp với phương pháp kế toán hàng tồn kho, cung cấp thông tin cho việc lập báo cáo tài chính và phân tích hoạt động kinh doanh. - Kiểm tra ghi chép phản ánh tổng hợp số liệu về tình hình thu mua, vận chuyển, bảo quản, đánh giá phân loại tình hình nhập xuất và quản lý nguyên vật liệu. Nguyên tắc hạch toán nguyên vật liệu: - Trị giá vật liệu nhập xuất tồn phải theo đúng giá thực tế. - Vật liệu phải được theo dõi chi tiết cả về mặt giá trị lẫn hiện vật của từng loại vật liệu.
- Vật liệu được dự phòng giảm giá theo chế độ nhà nước quy định. - Việc hạch toán nguyên vật liệu được áp dụng một trong hai phương pháp là kê khai thường xuyên hoặc kiểm kê định kỳ. Phân loại nguyên vật liệu: a. Phân loại theo công dụng chủ yếu và tính năng xử dụng: - Nguyên liệu, vật liệu chính: Là những loại nguyên liệu và vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất thì cấu thành thực thể vật chất, thực thể chính của sản phẩm.
- – Vật liệu phụ: Là những loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất, không cấu thành thực thể chính của sản phẩm nhưng có thể kết hợp với vật liệu chính làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dáng bề ngoài, tăng thêm chất lượng của sản phẩm. - – Nhiên liệu: Là những thứ có tác dụng cung cấp nhiệt lượng trong quá trình sản xuất, kinh doanh tạo điều kiện cho quá trình chế tạo sản phẩm diễn ra bình thường. Nhiên liệu có thể tồn tại ở thể lỏng, thể rắn và thể khí. - Vật tư thay thế: Là những vật tư dùng để thay thế, sửa chữa máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, công cụ, dụng cụ sản xuất… - Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: Là những loại vật liệu và thiết bị được sử dụng cho công việc xây dựng cơ bản.
Đối với thiết bị xây dựng cơ bản bao gồm cả thiết bị cần lắp, không cần lắp, công cụ, khí cụ và vật kết cấu dùng để lắp đặt vào công trình xây dựng cơ bản. - Phế liệu thu hồi: Là những loại phế liệu thu hồi từ quá trình sản xuất để sử dụng hoặc bán ra ngoài. Sinh viên: Lâm Bảo Thoa 4 Lớp: QT1807K KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHDL HẢI PHÒNG b. Phân loại theo từng nguồn cung cấp.
- Nguyên vật liệu được cấp: là nguyên vật liệu do đơn vị cấp trên cấp cho cấp dưới theo quy định. - Nguyên vật liệu nhận vốn góp liên doanh: là nguyên vật liệu do các bên liên doanh góp vốn theo thỏa thuận hợp đồng liên doanh. - Nguyên vật liệu mua ngoài: là nguyên vật liệu mà doanh nghiệp mua bên ngoài từ các nhà cung cấp. - Vật liệu tự chế biến: là vật liệu do doanh nghiệp sản xuất ra và sử dụng như nguyên liệu để sản xuất sản phẩm.
- Vật liệu thuê gia công ngoài: là loại vật liệu thuê các cơ sở gia công làm nên. Phân loại theo cách khác: - Nguyên vật liệu chính dung cho chế tạo sản phẩm và sản xuất. - Nguyên vật liệu dùng cho các nhu cầu khác: phục vụ quản lý ở các phân xưởng, tổ đội sản xuất, cho nhu cầu bán hàng, quản lý doanh nghiệp… 1. Phƣơng pháp tính giá nguyên vật liệu: a.
Đối với nguyên vật liệu nhập kho Gía gốc NVL nhập kho mua ngoài: Giá thực tế Giá mua Các khoản Chi phí CKTM, giảm nhập kho do = ghi trên + thuế không + thu mua - giá hàng mua, mua ngoài hoá đơn được hoàn lại thực tế hàng mua trả lại. Vật tư tự gia c ng, chế biến tính theo giá thành sản xu t thực tế. Giá thực tế nhập Giá thực tế vật liệu xuất = + Chi phí chế biến kho do tự chế biến chế biến Vật tư thuê ngoài gia c ng chế biến Giá vật tư thuê ngoài Giá TT vật tư xuất CPPS liên quan tới = + gia công chế biến thuê gia công chế biến gia công chế biến Sinh viên: Lâm Bảo Thoa 5 Lớp: QT1807K KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHDL HẢI PHÒNG Giá gốc nguyên vật liệu nhận vốn góp liên doanh Giá thực tế nhập kho do nhận Giá thoả thuận giữa các Chi phí = + góp vốn bên tham gia góp vốn liên quan Vật tư được cấp CPPS liên quan Giá ghi trên biên Giá thực tế vật tư được cấp = + tới quá trình tiếp Bản bàn giao nhận đầu tư Phế liệu thu hồi tính theo giá trị thu hồi tối thiểu hoặc giá ước tính có thể sử dụng được. Đối với nguyên vật liệu xuất kho : Phương pháp tính bình quân gia quyền: Theo phương pháp này, trị giá nguyên vật liệu xuất dùng trong kỳ được tính theo đơn giá bình quân.
Giá trị NVL tồn DK+ giá trị NVL nhập trong kỳ Đơn giá xuất kho bìnhquân trong kỳ = Số lượng NVL tồn ĐK+ số lượng NVL nhập trong kỳ - Ưu điểm: Đơn giản dễ làm chỉ cần tính toán vào 1 lần cuối kì. - Nhược điểm: Độ chính xác không cao. Công việc dồn vào cuối tháng gây ảnh hưởng đến tiến độ của các nhiệm vụ khác. Phương pháp bình quân liên hoàn: Sau mỗi lần nhập nguyên vật liệu kế toán phải xác định lại giá trị thực của hàng tồn kho và giá đơn vị bình quân.
Đơn giá xuất Trị giá NVLtồn DK+ trị giá NVL nhập trước lần xuất thứ i kho lần thứ i = Số lượng NVL tồn DK+ số lượng NVLnhập trước lần xuất thứ i - Ưu điểm: Phương pháp này cho biết giá hàng hóa xuất kho chính xác, phản ánh được kịp thời sự biến động của giá cả hàng tồn kho, công việc tính giá được tiến hành đều đặn - Nhược điểm: tốn khá nhiều công sức và phải tính toán nhiều lần. Sinh viên: Lâm Bảo Thoa 6 Lớp: QT1807K KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHDL HẢI PHÒNG Phương pháp nhập trước - xu t trước: Theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập kho ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị của hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ. Phương pháp giá thực tế đích danh: Theo phương pháp này khi nguyên vật liệu xuất kho thuộc lô hàng nào thì lấy đơn giá nhập kho của lô hàng đó để tính. Phương pháp này được áp dụng đối với đơn vị có ít loại mặt hàng, mặt hàng ổn định và loại hàng tồn kho nhận diện được.
Khi xuất kho nguyên vật liệu doanh nghiệp chỉ định rõ giá xuất. Phương pháp bán lẻ: Thông tư 200 bổ sung 1 kỹ thuật mới xác định giá trị hàng tồn kho đó là phương pháp giá bán lẻ. Đối với các ngành hàng bán lẻ, mỗi khi xuất hàng ra, chúng ta làm bút toán xác định giá vốn thì không thể kịp được, ngày Tết vào siêu thị, các bạn thấy siêu thị mặc dù đã bố trí rất nhiều quầy thanh toán nhưng do số lượng quá đông nên chúng ta vẫn phải xếp hàng tiếp tục chờ đợi thanh toán nửa tiếng đến cả tiếng đồng hồ, khi thanh toán chúng ta thấy tờ hóa đơn rất dài, nếu siêu thị mỗi lần xuất hàng và làm bút toán xác định giá vốn thì rất nhiều và không thể ghi kịp các bút toán này. Chính vì thế đối với các ngành hàng kinh doanh bán lẻ như siêu thị, các công ty xăng dầu bán lẻ cho từng khách hàng thì họ không thể áp dụng kỹ thuật tính giá bình thường mà phải áp dụng kỹ thuật mới gọi là “Phương pháp giá bán lẻ” để xác định tồn kho cuối kỳ và tồn kho xuất trong kỳ 1.
Kế toán chi tiết nguyên vật liệu: a. Phƣơng pháp sổ đối chiếu luân chuyển: Trình tự ghi chép: Sinh viên: Lâm Bảo Thoa 7 Lớp: QT1807K KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHDL HẢI PHÒNG Sơ đồ 1.