Chương 1: Trình bày cơ sở lý luận về hoạt động bảo trì, các lý thuyết làm cơ sở phân tích các yếu tố tác động đến hoạt động bảo trì. Chương 2: Phân tích thực trạng hoạt động bảo trì tại cơ sở, phân tích các yếu tố tác động đến hoạt động bảo trì tại Công ty thủy điện Đại Ninh. Chương 3: Đề xuất các giải pháp cần thực hiện nhằm hoàn thiện hoạt động bảo trì tại Công ty thủy điện Đại Ninh. 123doc 5 CƠ SỞ LÝ LUẬN BẢO TRÌ “Ngày nay máy móc thiết bị được ứng dụng vào hầu hết mọi lĩnh vực.
Sự vận hành ổn định, hiệu quả của thiết bị ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của tổ chức, doanh nghiệp. Điều này quyết định bởi hoạt động bảo trì. Mỗi tổ chức khác nhau có cách nhìn nhận, quan điểm khác nhau về bảo trì. Sau đây là một khái niệm điển hình: “Bảo trì là tập hợp các hoạt động nhằm duy trì hoặc phục hồi một tài sản ở tình trạng nhất định hoặc bảo đảm một dịch vụ xác định” (Phạm Ngọc Tuấn, 2012, trang 29).
Ý nghĩa của các thành phần chính trong khái niệm được hiểu như sau: Tập hợp các hoạt động là bao gồm tất cả các hành động sử dụng phương tiện, giải pháp kỹ thuật để thực hiện bảo trì; duy trì là ngăn ngừa sự cố làm hư hỏng thiết bị để duy trì tình trạng hoạt động tốt; phục hồi là sửa chữa hoặc thay thế các bộ phận cấu thành để đưa thiết bị trở lại trạng thái hoạt động đúng như ban đầu; tài sản bao gồm tất cả các máy móc, trang thiết bị, cơ sở vật chất khác tham gia vào quá trình hoạt động sản xuất.” “Thực tế bảo trì đã hình thành cùng với những phương tiện lao động đầu tiên của loài người. Nhưng đến giữa thế kỹ XVIII, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diển ra ở Châu Âu, máy móc thiết bị sử dụng nhiều hơn trong hoạt động sản xuất thì bảo trì bắt đầu hình thành một cách có hệ thống, yêu cầu sửa chữa máy móc ngày càng cấp thiết. Khi Thế chiến thứ nhất và Thế chiến thứ hai diển ra thì bảo trì không chỉ phục vụ hoạt động sản xuất mà còn tham gia tích cực trong việc bảo trì cả thiết bị quân sự. Trong vài thập niên gần đây khi số lượng và chủng loại máy móc, thiết bị sử dụng trong nhiều lĩnh vực sản xuất ngày càng tăng thì bảo trì càng được coi trọng.
Các nhà khoa học và công nghệ cho rằng bảo trì đã phát triển qua ba thế hệ.” 123doc 6 “Thế hệ thứ nhất bắt đầu từ Thế chiến thứ II trở về trước. Lúc này, nền công nghiệp thế giới còn lạc hậu, máy móc sử dụng trong sản xuất rất thô sơ, đơn giản, khả năng sẵn sàng của thiết bị không ảnh hưởng nhiều đến sản xuất. Chính vì vậy, bảo trì chủ yếu là sửa chữa khi thiết bị hỏng nặng, không thể tiếp tục hoạt động. Việc thực hiện đơn giản, chưa có phương pháp hợp lý.
Hoạt động này không ảnh hưởng lớn đến năng suất sản xuất và chất lượng sản phẩm. Chính sách phòng ngừa hư hỏng chưa được quan tâm rộng rải.” “Thế hệ thứ hai bắt đầu từ chiến tranh thế giới lần thứ II, lúc này nhu cầu sử dụng hàng hóa tăng cao, trong khi nguồn nhân lực ngày càng giảm do phục vụ chiến tranh. Vào những năm của thập niên 50 thế kỹ XX, nền sản xuất đã sử dụng nhiều máy móc quan trọng, có cấu tạo phức tạp. Máy móc ảnh hưởng lớn đến kết quả sản xuất, dẫn đến quan tâm hơn đến thời gian ngừng máy.
Mục tiêu chính của bảo trì lúc này là duy trì máy móc hoạt động ổn định, lâu dài, không phải vận hành đến khi hư hỏng rồi sửa chữa. Vì vậy, giải pháp bảo trì phòng ngừa hình thành từ đó. Trong giai đoạn đầu của thế hệ này (khoảng 1960), phòng ngừa chủ yếu được thực hiện bằng việc Đại tu thiết bị sau một thời gian hoạt động nhất định.” “Thế hệ thứ ba bắt đầu từ khoảng từ năm 1985. Nền công nghiệp thế giới đã phát triển vượt bậc, tình trạng hoạt động của máy móc quyết định hiệu quả sản xuất.
Bảo trì trở nên rất quan trọng và được yêu cầu ngày càng cao. Bảo trì hướng đến tác động làm gia tăng các yếu tố chính của sản xuất như: Khả năng sẵn sàng và tuổi thọ của máy móc, chất lượng sản phẩm, mức độ an toàn, hiệu quả sử dụng chi phí bảo trì; giảm thiệt hại về môi trường.” “Trải qua các thế hệ hoạt động bảo trì đã có nhiều phát triển mới trên các phương diện về giải pháp chung cũng như kỹ thuật, công cụ hỗ trợ. Các giải pháp bảo trì tiên tiến đã được đưa vào áp dụng rộng rải như: Bảo trì theo tình trạng thiết bị, bảo trì hướng vào độ tin cậy, bảo trì năng xuất toàn bộ. Bên cạnh đó, đã có nhiều kỹ thuật và công cụ hỗ trợ tích cực để thực hiện các giải pháp như: phân tích rũi ro, dạng hư hỏng và hậu quả; hệ thống chuyên gia.
Trên cơ sở giải pháp và kỹ thuật áp dụng, việc thiết kế máy móc, thiết bị ngày càng chú tâm vào độ tin cậy, dể thay thế, dể sửa chữa. 123doc 7 Việc tổ chức thực hiện cũng ngày một cải tiến theo hướng linh hoạt, có sự tham gia của mọi thành phần, mọi khâu trong hoạt động sản xuất (Phạm Ngọc Tuấn, 2012).” “Ngày nay bảo trì đóng một vai trò rất quan trọng trong sản xuất. Thực hiện phòng ngừa để tránh cho máy móc không hư hỏng; tăng tối đa năng suất của thiết bị, bảm bảo thiết bị hoạt động đúng yêu cầu và liên tục tương ứng với tuổi thọ thiết kế. Bên cạnh đó, công tác bảo trì cũng giúp khắc phục khó khăn về phụ tùng, nhất là ở những nước đang phát triển.
Vì ở những nước này có nhiều máy móc cũ đang hoạt động, trong khi công nghệ đã phát triển và cho ra đời những máy móc thế hệ mới. Vấn đề phụ tùng thay thế là yếu tố rất được quan tâm, bởi vì nguồn phụ tùng thay thế tương đương cho thiết bị rất khan hiếm và có rất giá cao. Nếu công tác bảo trì được thực hiện tốt sẽ giúp cho doanh nghiệp hạn chế đến mức thấp nhất các chi phí cho mua sắm thiết bị, bảo đảm khai thác tối ưu hiệu năng của các máy móc đã đầu tư.” “Để thực hiện đúng vai trò như mong đợi bảo trì hướng đến các mục tiêu cụ thể. Thứ nhất là ngăn ngừa sự cố trong quá trình và loại bỏ khuyết tật trong tương tai để tăng khả năng sẵn sàng của máy móc; giảm thời gian ngừng sản xuất do hư hỏng thiết bị về không bảo đảm quá trình sản xuất liên tục và ổn định.
Thứ hai là cải thiện chất lượng sản phẩm làm thỏa mãn khách hàng. Thứ ba là giảm thiểu chi phí bảo trì và các thiệt hại gián tiếp do bảo trì gây nên; nâng cao hiệu quả hoạt động và mang lại lợi nhuận cao cho tổ chức. Thứ tư là phát triển đội ngũ công nhân viên thông qua đào tạo, huấn luyện; cải thiện tinh thần và thái độ làm việc của mọi người. Thứ năm là là cải thiện môi trường làm việc và an toàn lao động, không để xảy ra tai nạn (Phạm Ngọc Tuấn, 2012).” “Hình 1-1 thể hiện cho chúng ta thấy các loại bảo trì đang được áp dụng hiện nay, trong đó phân thành hai nhóm chính.
Nhóm thứ nhất là bảo trì không kế hoạch, tức là công tác bảo trì cần được thực hiện ngay khi có yêu cầu cần khắc phục tình trạng bất thường của thiết bị mới phát sinh mà không có kế hoạch trước hay thông tin về tình trạng thiết bị. Hình thức này thường áp dụng trong các trường hợp khẩn cấp. 123doc 8 Nhóm thứ hai là bảo trì có kế hoạch gồm những hoạt động được triển khai thực hiện theo một kế hoạch với những trình tự cụ thể đã thiết lập trước, được kiểm soát chặc chẽ. Hình thức này thường áp dụng để phòng ngừa hư hỏng, cải tiến thiết bị.
Tùy theo hình thức tổ chức thực hiện và mục tiêu cần đạt mà được người ta phân ra nhiều loại cụ thể với tên gọi khác nhau.” BT không Bảo trì khẩn cấp kế hoạch Bảo trì phục hồi Bảo trì Bảo trì phòng ngừa Bảo trì dự phòng BT có Trực tiếp Gián tiếp kế hoạch (CBM) (Định kỳ) Bảo trì phục hồi Bảo trì cải tiến Bảo trì khẩn cấp RCM TPM Bảo trì chính xác Hình 1-1: Các chiến lược bảo trì (Nguồn: Phạm Ngọc Tuấn, 2012) “Bảo trì phục hồi là sửa chữa hoặc thay thế thiết bị để đưa về trạng thái làm việc bình thường theo thiết kế. Bảo trì khẩn cấp là công tác phải được thực hiện ngay khi có phát sinh sự cố nhằm đưa thiết bị trở lại vận hành bình thường hoặc thực hiện những biện pháp ngăn chặn tránh những hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra. Bảo trì phòng ngừa là các việc ngăn ngừa sự cố xảy ra hoặc tìm những khiếm khuyết trước khi nó phát triển thành sự cố. Công tác này phải được lập kế hoạch trước.
Hai hình thức phòng ngừa cơ bản là: “bảo trì phòng ngừa trực tiếp” được thực hiện theo chu kỳ nhất định bằng các tác động trực tiếp vào thiết bị như bảo dưỡng, thay thế một số bộ phận; “bảo trì phòng ngừa gián tiếp” chủ yếu là kiểm tra, đánh giá, phân tích để phát hiện tình trạng bất thường trước khi hình thành sự cố. Bảo trì cải tiến là khắc 123doc 9 phục những hạn chế do thiết kế bằng cách thay thế một số bộ phận của máy, thay đổi điều kiện vận hành, bổ sung thiết bị nhằm làm cho thiết bị vận hành ổn định lâu dài hơn. Hai chiến lược bảo trì mang tính hệ thống thường được áp dụng là Chiến lược bảo trì năng xuất toàn bộ (TPM) và Chiến lược bảo trì tập trung vào độ tin cậy. Chiến lược bảo trì năng suất toàn bộ (TPM) là hệ thống bảo trì được áp dụng cho toàn bộ các bộ phận có liên quan đến hoạt động sản xuất trong Công ty, với sự tham gia của mọi thành viên các cấp.
Hình thức tổ chức thực hiện là chia nhỏ các nhóm phụ trách để khai thác hiệu xuất thiết bị một cách cao nhất. TPM thực hiện ngăn ngừa tổn thất từ mọi khâu của quá trình nhằm đạt mục các tiêu của bảo trì. TPM tập trung vào các trụ cột chính sau đây: - Bảo trì tự quản, người vận hành đảm nhiệm thêm công việc bảo dưỡng, sửa chữa nhỏ và phát hiện tình trạng bất thường của thiết bị ở mức độ nhất định.