Chương 1: Cở sở lý luận về thẩm định cho vay khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại 5 Chương 2: Thực trạng công tác thẩm định cho vay khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành xây lắp tại Ngân hàng TMCP Quân Đội- Chi nhánh Tây Hồ Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thẩm định cho vay khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành xây lắp tại ngân hàng TMCP Quân Đội- Chi nhánh Tây Hồ. 6 PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẨM ĐỊNH CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về doanh nghiệp vừa và nhỏ Theo điều 6 trong Nghị định số 39/2018/NĐ-CP Hướng dẫn Luật hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ “Doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng.
Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này. Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này.
7 Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này. Thẩm định cho vay khách hàng doanh nghiệp doanh nghiệp vừa và nhỏ 1. Khái niệm và sự cần thiết của thẩm định cho vay khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khái niệm Thẩm định cho vay khách hàng doanh nghiệp là việc tiến hành nghiên cứu phân tích một cách khách quan, khoa học và toàn diện tất cả các nội dung kinh tế- kỹ thuật của dự án, đặt trong mối tương quan với môi trường kinh tế, xã hội để cho phép đầu tư và/hoặc quyết định tài trợ vốn.
Sự cần thiết của thẩm định cho vay khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ Từ góc độ đơn vị tài trợ vốn cho dự án, ngân hàng quan tâm đến hiệu quả của phương án trên phương diện nhà đầu tư thay vì chủ đầu tư như doanh nghiệp. Vì thế các kết quả tính toán trong quá trình thẩm định doanh nghiệp nhiều trường hợp không phù hợp với góc độ phân tích mà ngân hàng đặt ra. Mặt khác, ngân hàng cũng cần có những kết quả phân tích khách quan về dự án thay vì chỉ dựa vào số liệu mà doanh nghiệp cung cấp, điều này giúp ngân hàng tránh được những rủi ro trên khía cạnh pháp lý cũng như tính chân thật của dữ liệu. Khi cân nhắc ra quyết định tài trợ vốn cho một dự án bất kỳ, ngân hàng cần tiến hành thẩm định lại dự án thông qua các điều khoản được quy định trong Hướng dẫn thẩm định cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng kết hợp phân tích độ nhạy để ước lượng được các rủi ro có thể xảy ra trong tương lai sẽ tác động tới hiệu quả của dự án ở mức độ nào.
Từ đó, ngân hàng xác định được biên độ an toàn, đồng thời bổ sung thêm các biện pháp hạn chế rủi ro, đảm bảo tính khả thi của dự án, tạo cơ sở xác định hiệu quả đầu tư và khả năng hoàn vốn của dự án đầu tư, quan trọng hơn hết vẫn là khả năng trả nợ của chủ đầu tư trong tương lai. Ngân hàng thu lợi chủ yếu nhờ hoạt động cho vay. Chính vì vậy mỗi một khoản tín dụng được cấp ra nhất thiết phải mang lại hiệu quả, điều đó đồng nghĩa với việc đảm bảo 8 cho hoạt động của ngân hàng được an toàn và hiệu quả. Vì vậy, điều ngân hàng quan tâm nhất là khả năng hoàn trả khoản vay cả gốc lẫn lãi đúng thời hạn.
Do đó, việc ngân hàng phải tiến hành thẩm định dự án trên mọi phương diện kỹ thuật, thị trường, tổ chức quản lý, tài chính…là rất quan trọng, trong đó thẩm định tài chính dự án có thể nói là quan trọng nhất. Quy trình chung về thẩm định dự án cho vay khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ Việc lập dự án còn mang tính chủ quan của người lập, do đó để tránh những rủi ro như bất cân xứng về thông tin thì ngân hàng phải thẩm định trên quan điểm của khách hàng để xem xét có quyết định đầu tư hay tài trợ cho dự án hay không. Quy trình thẩm định bao gồm những bước như sau: Bước 1: Xác định thông số chính của dự án Tại bước này, cán bộ thẩm định cần xác định những thông số quan trọng của dự án. Điều này đòi hỏi kinh nghiệm cũng như am hiểu về những đặc trưng của ngành nghề bởi vì mỗi loại dự án khác nhau sẽ có những thông số quan trọng khác nhau.
Ví dụ, đối với dự án thủy điện, những thông số như mực nước chết, mực nước dâng bình thường hoặc chiều cao cột nước là những thông số đặc biệt quan trọng vì liên quan đến vận hành nhà máy thủy điện. Tuy nhiên, với dự án kinh doanh tòa nhà, xây dựng chung cư, cao ốc, những thông số liên quan đến an toàn như tầng hầm để xe, diện tích sàn kinh doanh, hệ thống điện, phòng cháy chữa cháy trong từng tầng lại đặc biệt cần lưu ý, cũng như vị trí địa lý, hướng của tòa nhà,…vì những chỉ tiêu này liên quan trực tiếp đến doanh thu của dự án Bước 2: Kiểm tra độ tin cậy các thông số của dự án Đây là bước đặc biệt quan trọng và khó khăn đối với cán bộ thẩm định. Các thông số mà chủ thầu cung cấp đều mang tính chủ quan và thường cố che đi những hạn chế của dự án, để được ngân hàng tài trợ với nguồn vốn cao nhất có thể. Do đó, các cán bộ thẩm định phải hết sức khách quan khi đánh giá lại của thông số đó, phân tích tình hình vi mô của dự án và vĩ mô của nền kinh tế.
Xem xét tỷ lệ lạm phát, tỷ giá ước tính qua các năm, phân tích tình hình phát triển của khu vực để xem xét các thông số này có còn phù hợp vào thời điểm trong tương lai hay không. Cán bộ không chit thẩm định tổng mức đầu tư, thẩm định kĩ 9 thuật mà còn phải thẩm định thị trường (Thị yếu, nhu cầu cần thiết của dự án đó trong tương lai) Bước 3: Đánh giá tính hợp lý của các bảng tính trung gian Từ các thông số, các dự án thường xây dựng được các bảng tính trung gian. Người thẩm định cần xác định được độ chính xác của các bảng tính này. Ví dụ, bảng tính doanh thu, chi phí và lợi nhuận có được hạch toán đúng chi phí hay không? Có phù hợp với quy định của pháp luật của Việt Nam hay không? Bởi dự án đầu tư khi đến giai đoạn vận hành sẽ buộc phải thực hiện các bút toán thu- chi theo quy định của pháp luật.
Xem xét các chỉ số tăng trưởng được dự đoán trong tương lai xem có phù hợp với các bảng mà chủ dự án cung cấp hay chưa? Bước 4: Phân tích hiệu quả tài chính của dự án Bước này cán bộ thẩm định sẽ tính lại dự án trên cơ sở đã điều chỉnh hợp lý các thông số cũng như bảng tính trung gian. Trên thực tế, bước này có kết quả là các chỉ tiêu NPV (Net Present Value- Lợi nhuận của dự án), IRR (Internal Return Present Value- Lợi nhuận của dự án), DSCR (Debt Service Cover Ratio- Khả năng cân đối nguồn trả nợ và kế hoạch trả nợ), thời gian hoàn vốn của dự án. Bước 5: Thẩm định rủi ro của dự án Trên thực tế, mọi thông số được ước tính trong dự án đều có thể biến động trong tương lai. Người thẩm định cần xác định rõ khả năng biến đổi các thông số dự tính có thể khiến dự án từ lãi thành lỗ trong tương lai.
Trong bước này, cán bộ cần đưa ra những chú ý về những thông số nào có thể gây ra rủi ro, đồng thời chỉ rõ khả năng phòng ngừa và hạn chế rủi ro đó. Bên cạnh những rủi ro định lượng được xác định trên bảng thông số, các dự án có thể gặp các rủi ro định tính như rủi ro cơ chế chính sách, rủi ro tiến độ, rủi ro môi trường đầu tư,… 1. Nội dung thẩm định dự án cho vay khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ Sau khi bộ phận tiếp nhận hồ sơ dự án của khách hàng sẽ lập một tờ trình thẩm định, gửi lên các cán bộ thẩm định để thẩm định xem dự án này ngân hàng có nên đầu tư hoặc quyết định cho vay vốn hay không? 10 Nội dung tờ trình thẩm định của các ngân hàng thương mại có thể khác nhau về hình thức.