CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về văn hóa Trước khi đi sâu tìm hiểu về văn hóa doanh nghiệp, cần phải hiểu khái niệm về văn hóa. Văn hóa là một khái niệm có tính lịch sử lâu dài, thăng trầm, được nghiên cứu rất nhiều và từ rất lâu.
Nó có thể được sử dụng trong đời sống hàng ngày, như một hành động của cá nhân có thể được gọi là “có văn hoá”. Hoặc nó có thể được sử dụng trong giới học thuật, như nhân chủng học, xã hội học. Khái niệm văn hoá có nội hàm rất rộng, phản ánh một cách đa dạng đời sống con người. Đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm “Văn hóa”, do đó có những định nghĩa khác nhau và phức tạp về văn hóa.
Kroeber và Kluckhohn xuất bản quyển sách “Văn hóa, điểm lại bằng cái nhìn phê phán các khái niệm và định nghĩa” (Culture, a critical review of concept and definitions), trong đó tác giả đã trích lục khoảng 160 định nghĩa về văn hóa do các nhà khoa học đưa ra ở nhiều nước khác nhau. (Dương Thị Liễu, 2012) Sau đây là một số định nghĩa tiêu biểu về văn hóa: Tổ chức UNESCO đã định nghĩa: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”. Định nghĩa này nhấn mạnh vào hoạt động sáng tạo của các cộng đồng người gắn liền với tiến trình phát triển có tính lịch sử của mỗi cộng đồng trải qua một thời gian dài tạo nên những giá trị có tính nhân văn phổ quát, đồng thời có tính đặc thù của mỗi cộng đồng, bản sắc riêng của từng dân tộc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh có câu nói nổi tiếng về văn hoá: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”. Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra nội hàm của văn hoá bao gồm: ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, 10 tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Văn hóa doanh nghiệp Mãi cho đến đầu những năm 80 của thế kỉ 20 các học giả về tổ chức mới quan tâm một cách nghiêm túc đến khái niệm văn hoá doanh nghiệp.
Đây là một trong số ít các lĩnh vực mà các học giả dẫn dất các nhà quản trị có thực tiễn nhằm xác định các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả của tổ chức. Văn hoá doanh nghiệp (Corporate Culture) là một khái niệm còn được biết tới với tên khác như văn hoá tổ chức (Organizational Culture). Mặc dù có hơn 150 định nghĩa về VHDN nhưng đều dựa trên 2 nền tảng chính là: xã hội học (tổ chức có văn hoá) và nhân chủng học (tổ chức chính là văn hoá). Tuy nhiên, đa số các tác giả đều đồng ý rằng khái niệm văn hoá tổ chức nhắc đến các giá trị mặc nhiên, các ngầm định cơ bản, các mong đợi và các định nghĩa tạo nên nét đặc trưng của tổ chức và các thành viên trong tổ chức đó.
(Cameron & Quinn, 2011) Theo Edgar Schein, giáo sư danh dự về khoa học quản trị tại đại học MIT, người có đóng góp rất lớn trong lĩnh vực quản trị doanh nghiệp, điều nguy hiểm nhất khi nỗ lực tìm hiểu khái niệm văn hoá doanh nghiệp là đơn giản hóa quá mức khái niệm này. Văn hoá doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là cách người ta thực hiện công việc, hệ thống khen thưởng hay các giá trị cơ bản của doanh nghiệp… mà thực tế đây là một khái niệm phức tạp và để hiểu được khái niệm này cần phải phân tích đầy đủ các cấp độ văn hoá doanh nghiệp. Vì vậy, tìm hiểu khái niệm văn hoá doanh nghiệp là thật sự quan trọng. Giáo sư Edgar Schein đã đưa ra định nghĩa về văn hóa doanh nghiệp như sau: “Một dạng thức các quan niệm ngầm định cùng chia sẻ mà một nhóm học hỏi được, khi nó giải quyết những vấn đề liên quan đến việc thích nghi với môi trường bên ngoài và sự hợp nhất nội tại.
Dạng thức này vận hành đủ tốt để được xem là có giá trị, và do đó được truyền dạy cho các thành viên mới như cách thức đúng đắn để nhận thức, tư duy và cảm nhận đối với những vấn đề tương tự.” (Schein, 2009) Giáo sư Denison (Denison , Hooijberg, Lane, & Lief, 2012) đưa ra một giải thích bình dân về văn hoá doanh nghiệp “Văn hoá doanh nghiệp vừa là cách chúng ta thực hiện công việc vừa là những gì chúng ta làm khi chúng ta cho rằng không 11 có ai nhìn thấy. Văn hoá là các quy tắc, logic cốt lõi, phần mềm của tâm trí tổ chức hành vi của con người, và là những bài học mà chúng ta biết là đủ quan trọng để truyền lại cho thế hệ tiếp theo.” Định nghĩa này có nhiều nét tương đồng với định nghĩa của Edgar Schein. Các nhà quản lý có thực tế trong điều hành doanh nghiệp cũng đưa ra những định nghĩa riêng về VHDN. Charles Day, nhà sáng lập Lookingglass (một công ty cung cấp các giải pháp công nghệ và an ninh mạng) định nghĩa “Văn hóa là hệ quả của giá trị doanh nghiệp.” Công ty Zappos định nghĩa VHDN bằng cách liệt kê những nội hàm cụ thể: hạnh phúc, con người, là chính mình, độc nhất, hài hước, biến đổi… Đặc điểm của các định nghĩa này là nó mang giá trị tính thực tiễn tại các doanh nghiệp hơn là giá trị nghiên cứu.
Các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng đưa ra những khái niệm về văn hoá doanh nghiệp. Theo Dương Thị Liễu: “Văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ giá trị tinh thần mang đặc trưng riêng biệt của doanh nghiệp có tác động tới tình cảm, lý trí vàhành vi của tất cả thành viên doanh nghiệp.” (Dương Thị Liễu, 2012) Theo Nguyễn Mạnh Quân: “Văn hóa doanh nghiệp là sự tổng hợp của mọi phương thức hoạt động cùng với biểu hiện của nó mà một tổ chức, doanh nghiệp đã sáng tạo ra nhằm thích ứng với những yêu cầu môi trường hoạt động và đòi hỏi của sự cạnh tranh. Các đặc điểm của VHDN Theo Edgar Schein, VHDN mang những đặc điểm sau đây. Thứ nhất, VHDN mang tính ổn định và khó thay đổi vì nó đại diện cho cả một quá trình học hỏi tích lũy chung của nhóm.
Đó là cách thức mà nhóm tư duy, nhận thức và cảm nhận về thế giới đã giúp nhóm thành công. Văn hoá của một doanh nghiệp vẫn tồn tại ngay cả khi một số thành viên của doanh nghiệp rời đi. Thứ hai, VHDN mang tính chiều sâu. Các quan niệm cơ bản của VHDN là phần chìm khuất nhất và vô thức vì vậy nó ít cụ thể và ít hữu hình.
Đây được xem là phần cốt lõi của VHDN bao gồm những quan niệm mặc định, giá trị và niềm tin, các quan niệm về hành vi. 12 Thứ ba, VHDN mang tính chiều rộng. Một khi văn hoá đã phát triển, thì nó ảnh hưởng đến mọi chức năng của doanh nghiệp. VHDN bao hàm cả sứ mệnh, chiến lược, cấu trúc và các quá trình hoạt động cơ bản.
Thứ tư, văn hóa là một dạng thức các quan niệm có mối quan hệ lẫn nhau ở những mức độ nhất định, tạo nên tính đa phương diện của văn hoá. Nếu chỉ xem xét một hoặc hai quan niệm cơ bản của doanh nghiệp và cho rằng đó là văn hoá của doanh nghiệp thì rất dễ bỏ sót những phương diện khác cũng quan trọng không kém giúp hiểu được văn hoá của doanh nghiệp. Tính đa phương diện trở nên đặc biệt quan trọng khi đánh giá điểm mạnh và điểm yếu của văn hoá. Vai trò của văn hóa doanh nghiệp trong quản lý Theo Nguyễn Mạnh Quân (2012) văn hóa doanh nghiệp trong quản lý thể hiện hai vai trò quan trọng như sau: Thứ nhất, VHDN là công cụ triển khai chiến lược.
Bất kỳ doanh nghiệp nào muốn phát triển cần thiết phải xây dựng bản chiến lược. Sau khi đã có chiến lược, doanh nghiệp sẽ triển khai chiến lược bằng các nguồn lực, trong đó con người là yếu tố then chốt quyết định sự thành công của chiến lược. Và con người trong doanh nghiệp có phối hợp hoạt động hiệu quả hướng đến mục tiêu chiến lược hay không do yếu tố văn hóa quyết định. Thứ hai, VHDN là cách tạo động lực cho người lao động và sự đoàn kết cho doanh nghiệp.
Lý thuyết VHDN được phát triển dựa trên hai yếu tố: giá trị và con người. Giá trị là những quan niệm được thể hiện trong triết lý hành động gồm cách nhận thức, tư duy, cảm nhận mà các thành viên trong doanh nghiệp lựa chọn để làm thước đo để đánh giá các quyết định, nguồn động lực để hành động và mục tiêu để phấn đấu. Giá trị là những đóng góp về phúc lợi, về sự phồn vinh và phát triển của xã hội, về việc gìn giữ và phát triển các giá trị đạo đức và nhân văn con người của doanh nghiệp. Giá trị được hình thành trên cơ sở những chuẩn mực, giá trị đạo đức xã hội và kinh doanh.
CÁC CẤP ĐỘ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. Ba cấp độ văn hóa doanh nghiệp Edgar Schein (Schein, 2016) đưa ra 3 cấp độ văn hóa doanh nghiệp: (1) Tạo tác hữu hình, (2) Các giá trị được tán đồng và (3) Các ngầm định cơ bản. Các cấp độ này đi từ rất hữu hình, biểu hiện rõ rệt, có thể dễ dàng nhìn thấy và cảm nhận được, cho đến các ngầm niệm cơ bản mang tính vô thức, tức là nội dung cốt lõi của VHDN. Khó quan sát Ngầm định cơ bản Giá trị được tán thành Tạo tác hữu hình Dễ quan sát Hình 1.1: Ba cấp độ VHDN của Edgar Schein Nguồn: (Schein, 2016) a) Thứ nhất là cấp độ các tạo tác hữu hình Đây là cấp độ hữu hình nhất, bao gồm các sự vật, hiện tượng mà một người có thể nhìn, nghe thấy và cảm thấy khi lần đầu tiếp xúc với một nền văn hóa.
Đặc điểm quan trọng nhất của cấp độ này là nó dễ quan sát nhưng rất khó để giải mã VHDN.