phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng bao gồm: Chƣơng I: Một số vấn đề lý luận về quản lý Thuế TNDN Chƣơng II: Thực trạng công tác quản lý Thuế TNDN tại Chi cục Thuế quận Cẩm Lệ, Thành phố Đà Nẵng Chƣơng III: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý Thuế TNDN tại Chi cục Thuế quận Cẩm Lệ, Thành phố Đà Nẵng. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Vấn đề quản lý thuế nói chung và quản lý thuế TNDN nói riêng đƣợc nhiều nhà khoa học và các nhà quản lý quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và trực tiếp về quản lý thuế TNDN tại Chi cục thuế quận Cẩm Lệ. Đề tài nghiên cứu năm 2015 của tác giả Lƣơng Thị Minh Kiều tại Đại Học Đà Nẵng “Hoàn thiện công tác quản lý thuế TNDN tại Chi cục thuế quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng”.
Tác giả Lƣơng Thị Minh Kiều đã nêu lên thực trạng công tác quản lý thuế và các kết quả đạt đƣợc trong công tác quản lý thuế TNDN tại Chi cục thuế quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng giai đoạn năm 2009 đến 2013, tác giả đƣa ra những đánh giá chung về những thành tựu đạt đƣợc, những hạn chế còn tồn tại và những nguyên nhân của những hạn chế đó, để đƣa ra những giải pháp khắc phục phù hợp. Nhƣng luận văn vẫn chƣa đánh giá đƣợc mức độ hài lòng của NNT về chất lƣợng dịch vụ cung cấp, chƣa phân tích đƣợc môi trƣờng ảnh hƣởng đến công tác quản lý thuế TNDN tại địa bàn, cũng nhƣ chƣa làm rõ đƣợc sự phối hợp giữa các bộ phận chức năng của Chi cục trong công tác quản lý thuế TNDN. Đề tài nghiên cứu năm 2011 tại Đại học Đà Nẵng“Quản lý thuế TNDN 4 tại Cục thuế Đà Nẵng” của tác giả Lý Vân Phi, kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra đƣợc những hạn chế còn tồn tại của CQT, NNT và tác động của cơ chế chính sách tới công tác quản lý thuế. Nhƣng tác giả mới chỉ đánh giá đƣợc thực trạng công tác quản lý thuế TNDN chƣa đánh giá đƣợc kết quả của công tác quản lý thuế TNDN tại Cục thuế, luận văn chỉ mới tập trung vào bốn công tác chủ yếu, còn lập dự toán thu thuế là một trong những công tác quan trọng trong quản lý thuế TNDN thì chƣa đƣợc phân tích.
Tác giả Trần Văn Ninh (2012) với nghiên cứu “Tăng cường kiểm soát thuế TNDN tại Chi cục thuế quận Cẩm lệ” tại Đại Học Đà Nẵng, tác giả đã sử dụng phƣơng pháp khảo sát, phƣơng pháp quan sát trực tiếp và phân tích qua kết quả kiểm toán để làm rõ nội dung công tác kiểm soát thuế TNDN; đánh giá thực trạng và đƣa ra các nhóm giải pháp thích hợp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát thuế TNDN tại Chi cục. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy chức năng nhiệm vụ của các Đội thuế trong bộ máy kiểm soát đã đƣợc thay đổi nhƣng vẫn còn chồng chéo, cơ sở dữ liệu thông tin NNT chƣa đồng bộ. Mục tiêu kiểm soát thuế chƣa hiệu quả, trình độ cán bộ kiểm soát thuế không đồng đều. Luận văn thạc sỹ bảo vệ tại Đại học Đà Nẵng của Trần Phan Quốc Chƣơng (2013) với đề tài “Quản lý thuế TNDN tại Cục thuế tỉnh Gia Lai” tƣơng tự kết quả luận văn đã làm rõ đƣợc nội dung và thực trạng công tác quản lý thuế TNDN nhƣng vẫn chƣa đƣa ra đƣợc các chỉ tiêu để đánh giá kết quả đạt đƣợc trong công tác quản lý thuế TNDN tại Cục thuế Gia Lai và luận văn chƣa chỉ ra đƣợc nguyên nhân của những tồn tại trong công tác quản lý thuế TNDN để từ đó đƣa ra phƣơng hƣớng hoàn thiện phù hợp với thực tiễn.
Lê Thị Mỹ Linh (2015) tại Đại học Đà Nẵng“Hoàn thiện công tác quản lý thuế TNDN trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng” nghiên cứu đã tiếp thu kinh nghiệm từ công tác quản lý thuế TNDN của các Chi cục 5 ở các quận, huyện khác để làm bài học kinh nghiệm, nhƣng tác giả vẫn chƣa xây dựng đƣợc đầy đủ bộ tiêu chí đánh giá hoạt động quản lý thuế TNDN tại địa bàn cũng nhƣ chƣa đánh giá đƣợc chất lƣợng công tác quản lý thuế. Tất cả các nghiên cứu trên, tác giả đều đã đánh giá đƣợc thực trạng và kết quả của công tác quản lý thuế TNDN, từ đó đã đƣa ra các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế TNDN tại CQT mà tác giả khảo sát. Tuy nhiên, tùy vào đặc điểm kinh tế và công tác quản lý thuế mỗi nơi, mà Công tác quản lý thuế TNDN đạt đƣợc những kết quả cũng nhƣ còn tồn tại những hạn chế khác nhau, từ đó sẽ đề xuất những giải pháp khác nhau, phù hợp cho công tác quản lý thuế TNDN tại mỗi địa bàn, trong từng giai đoạn. Trong những năm gần đây đã có khá nhiều luận văn nghiên cứu về vấn đề này, tuy nhiên, chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách trực tiếp về quản lý thu thuế TNDN tại Chi cục thuế quận Cẩm Lệ thành phố Đà Nẵng.
Vì vậy, trên cơ sở nghiên cứu lý luận, các văn bản pháp luật, luật thuế TNDN, luật quản lý thuế và kế thừa các nghiên cứu trên đây, tác giả có những cơ sở để đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế TNDN tại Chi cục thuế quận Cẩm Lệ và mạnh dạn đề xuất các giải pháp mang tính thực tiễn nhằm giúp hoàn thiện hơn nữa công tác quản lý thuế TNDN trên địa bàn quận Cẩm Lệ trong thời gian tới. 6 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về Thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế là khoản thu có tính chất bắt buộc được thể chế hoá bằng pháp luật mà các thể nhân và pháp nhân phải thực hiện đối với Nhà nước nhằm tài trợ các nhu cầu chi tiêu công.
Thuế không phải là nguồn thu ngân sách duy nhất nhƣng là nguồn thu lớn và quan trọng. Theo ƣớc tính mới nhất từ International Centre for Tax and Development (ICTD), tổng thu từ thuế đóng góp hơn 80% tổng thu của chính phủ đối với một nửa các nƣớc trên thế giới và đóng góp hơn 50% ở hầu hết các quốc gia. Có sự khác biệt lớn về mức đóng góp từ thuế vào tổng ngân sách của Chính phủ giữa các nƣớc, đặc biệt là giữa các nƣớc phát triển và đang phát triển. Các nƣớc phát triển có tổng thu từ thuế cao hơn nhiều so với các nƣớc đang phát triển và chủ yếu từ thuế thu nhập.
Ở các nƣớc đang phát triển thì ngƣợc lại, thu nhiều hơn từ các loại thuế thƣơng mại, cũng nhƣ thuế tiêu thụ. Để hiểu rõ thuế thu nhập là gì trƣớc hết cần tìm hiểu về thu nhập: Thu nhập là tổng các giá trị mà một chủ thể nào đó nhận đƣợc trong nền kinh tế xã hội thông qua quá trình phân phối thu nhập quốc dân trong một thời hạn nhất định, không phân biệt nguồn gốc hình thành từ lao động, tài sản hay đầu tƣ… Nhƣ vậy, thuế thu nhập là một loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập thực tế của các cá nhân hoặc các pháp nhân nhƣng không phải toàn bộ thu nhập của các thể nhân và pháp nhân đều là đối tƣợng đánh thuế thu nhập, mà thuế thu nhập điều chỉnh hay thu trên phần thu nhập chịu thuế tức là khoản thu 7 nhập sau khi đã đƣợc miễn trừ chi phí hợp lý, hợp lệ. Thuế thu nhập đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo nguồn thu NSNN và thực hiện các chức năng quản lý, điều tiết vĩ mô của Nhà nƣớc đối với hoạt động kinh tế, xã hội trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Thuế thu nhập gồm có thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và thuế thu nhập cá nhân.
Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế của cơ sở sản xuất kinh doanh trong kỳ. Thuế TNDN là sắc thuế đƣợc nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng. Anh và Nhật Bản là những nƣớc đầu tiên áp dụng sắc thuế này từ những năm khoảng giữa và cuối thế kỷ XIX, một số nƣớc khác áp dụng vào khoảng đầu thế kỷ XX nhƣ Pháp, Thụy Sỹ, Liên Xô cũ, Trung Quốc,… Ở Việt Nam, thuế TNDN có xuất xứ từ khoản trích nộp lợi nhuận áp dụng đối với khu vực kinh tế quốc doanh và thuế Lợi tức doanh nghiệp áp dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trong giai đoạn từ năm 1953 đến trƣớc ngày 1/1/1990. Giai đoạn từ 1/1/1990 đến trƣớc ngày 1/1/1999 thuế Lợi tức đƣợc áp dụng thống nhất cho mọi thành phần kinh tế.
Năm 1997 Luật thuế TNDN đầu tiên đƣợc ban hành và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/1999. Kể từ khi ban hành đến nay, Luật thuế TNDN đã đƣợc sửa đổi, bổ sung nhiều lần nhằm tháo gỡ kịp thời các vƣớng mắc phát sinh phù hợp với thực tiễn nƣớc ta và thông lệ quốc tế. Ở các nƣớc, tên gọi của luật thuế này có thể khác nhau nhƣ ở Thái Lan, Indonesia gọi là luật thuế thu nhập công ty; ở Pháp là luật thuế công ty; vv…Nhƣng bản chất là tƣơng đối giống nhau. Có quốc gia quy định loại thuế này trong một luật riêng, quốc gia khác lại quy định chung một bộ luật với thuế thu nhập cá nhân vì họ cho rằng hai loại thuế đánh trên thu nhập này có quan hệ mật thiết với nhau nên quy định trong cùng một văn bản thì sẽ dễ tiếp cận hơn.
8 Không phải toàn bộ thu nhập của cơ sở sản xuất kinh doanh đều là đối tƣợng điều chỉnh của thuế TNDN. Thuế TNDN chỉ điều chỉnh phần thu nhập chịu thuế. Vì việc đánh thuế vào loại thu nhập nào, đánh nặng hay đánh nhẹ vào từng loại thu nhập là tuỳ thuộc vào quan điểm của mỗi Nhà nƣớc về điều tiết thu nhập qua thuế thu nhập, phụ thuộc vào khả năng quản lý thuế, chi phí quản lý thuế cũng nhƣ mục tiêu của thuế thu nhập phải đạt đƣợc để góp phần thực hiện các chính sách kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ nhất định. Điều này có nghĩa là, thuế TNDN là loại thuế thu trên thu nhập của các cơ sở kinh doanh để động viên một phần thu nhập của họ vào ngân sách nhà nƣớc(NSNN).
Ngoài ra, Nhà nƣớc cũng có thể sử dụng loại thuế này để điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua việc động viên công bằng giữa các thành phần kinh tế, khuyến khích ƣu đãi đầu tƣ nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển.