phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận chung về quản lí tài chính tại các doanh nghiệp; Chƣơng 2: Thực trạng về công tác quản lý tài chính tại Viettel Hải Phòng; Chƣơng 3: Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Viettel Hải Phòng. LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÍ TÀI CHÍNH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về doanh nghiệp 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của doanh nghiệp * Khái niệm về doanh nghiệp: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đƣợc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh ” [1, tr.1] * Đặc điểm của doanh nghiệp: - Theo điều 10, nghị định 88/2006/NĐ-CP, mỗi doanh nghiệp đều phải có tên riêng, Tên doanh nghiệp phải viết bằng tiếng Việt, có kèm theo chữ số và ký hiệu, phát âm đƣợc và có ít nhất hai thành tố là loại hình doanh nghiệp và tên riêng.
- Doanh nghiệp có hai loại tài sản hữu hình và vô hình. Tùy theo từng loại hình doanh nghiệp và ngành nghề kinh doanh, doanh nghiệp có mức vốn tối thiểu theo quy định của Nhà nƣớc. - Trụ sở giao dịch là nơi đặt văn phòng doanh nghiệp phục vụ hoạt động giao tiếp với khách hàng, với cơ quan chức năng (đƣợc ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh). - Doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục thành lập công ty theo quy định của pháp luật kinh doanh.
Các thủ tục và quy trình nộp hồ sơ thành lập đƣợc đăng ký với Sở kế hoạch đầu tƣ hoặc cơ quan có thẩm quyền theo luật định. * Vai trò của doanh nghiệp: - Thứ nhất: Giúp cho ngƣời lao động có đƣợc một công việc phù hợp với khả năng của mình trong doanh nghiệp của chính mình; nghĩa là tùy từng bộ phận trong doanh nghiệp của chính bạn sẽ tƣơng ứng với phần làm việc của từng công nhân trong doanh nghiệp cho nên chính vì vậy mỗi một ngƣời lao động trong doanh nghiệp sẽ có những khả năng làm việc kinh doanh của 5 chính mình sao cho doanh nghiệp của chính bạn có đƣợc khả năng kinh doanh thuận lợi nhất đối với doanh nghiệp. - Thứ hai: Khi các doanh nghiệp đƣợc thành lập một cách hợp pháp thì vấn đề cạnh tranh giữa doanh nghiệp Việt Nam với doanh nghiệp nƣớc ngoài tại Việt Nam hoặc doanh nghiệp nƣớc ngoài trong quá trình Việt Nam hội nhập quốc tế: từ đó sẽ giúp nâng cao sự cạnh trạnh cao trong doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp Việt Nam ngày càng khẳng định đƣợc vị thế của doanh nghiệp của chính mình. - Thứ ba: Khi đời sống của ngƣời dân ngày càng đƣợc ổn định thì các vấn đề xã hội ngày càng giữ đƣợc trật tự ổn định, vì nó đã giải quyết đƣợc cơ bản các vấn đề của xã hội, từ đó sẽ giúp cho nền kinh tế của chúng ta ngày càng phát triển trên thị trƣờng quốc tế.
Phân loại doanh nghiệp * Theo bản chất kinh tế của chủ sở hữu: Các doanh nghiệp đƣợc phân thành: Doanh nghiệp tƣ nhân, Doanh nghiệp hợp danh, Doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn. * Căn cứ vào hình thức pháp lý doanh nghiệp: Các doanh nghiệp đƣợc phân thành: - Công ty trách nhiệm hữu hạn (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) là doanh nghiệp mà các thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. - Công ty cổ phần là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty đƣợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần của doanh nghiệp đƣợc gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
6 - Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dƣới một cái tên chung (gọi là thành viên hợp danh). Thành viên hợp doanh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Ngoài ra trong công ty hợp danh còn có các thành viên góp vốn. - Doanh nghiệp tƣ nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Mỗi cá nhân chỉ đƣợc quyền thành lập một doanh nghiệp tƣ nhân. - Các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài đƣợc thành lập theo Luật đầu tƣ nƣớc ngoài 1996 chƣa đăng ký lại hay chuyển đổi theo quy định. * Căn cứ vào chế độ trách nhiệm: Các doanh nghiệp đƣợc phân thành: - Doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn: là loại hình doanh nghiệp mà ở đó chủ sở hữu doanh nghiệp có nghĩa vụ phải trả nợ thay cho doanh nghiệp bằng tất cả tài sản của mình, khi doanh nghiệp không đủ tài sản để thực hiện các nghĩa vụ tài chính của nó. Theo pháp luật Việt Nam, có hai loại doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn là doanh nghiệp tƣ nhân và công ty hợp danh.
- Doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn: Theo pháp luật Việt Nam, các doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn cụ thể gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài không tiến hành đăng ký lại theo Nghị định 101/2006/NĐ-CP. Những doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn là những doanh nghiệp mà ở đó chủ sở hữu chỉ phải chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa là khi số tài sản của doanh nghiệp không đủ để trả nợ thì chủ sở hữu không có nghĩa vụ phải trả nợ thay cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp trong quân đội Doanh nghiệp trong quân đội ở Việt Nam là các doanh nghiệp Nhà nƣớc do Bộ Quốc phòng trực tiếp quản lý.
Doanh nghiệp trong quân đội đƣợc chia ra thành: - Doanh nghiệp quốc phòng an ninh: là doanh nghiệp Nhà nƣớc bao gồm các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng và các doanh nghiệp đứng chân trên các địa bàn trọng yếu về an ninh quốc phòng kết hợp thực hiện hai nhiệm vụ quốc phòng và kinh tế. - Doanh nghiệp thuần về kinh tế: đang đƣợc dần từng bƣớc chuyển sang mô hình công ty cổ phần theo chƣơng trình cổ phần hóa doanh nghiệp của Chính phủ. Đi đôi với nâng cao đời sống vật chất của nhân dân, các đoàn Kinh tế - Quốc phòng cũng góp phần đáng kể cải thiện đời sống văn hoá tinh thần ở các vùng đất xa xôi của Tổ quốc. Các đoàn Kinh tế - Quốc phòng đã vận động nhân dân thực hiện đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc, phát triển hệ thống phát thanh truyền hình, văn hoá, y tế ở các thôn bản; mở trƣờng học cho con em đồng bào các dân tộc, tham gia chƣơng trình phổ cập tiểu học và xoá mù chữ; nâng cao điều kiện chăm sóc y tế, chữa bệnh cho nhân dân; bảo tồn và phát triển văn hoá truyền thống của các dân tộc thiểu số.
Các đoàn Kinh tế - Quốc phòng cũng đã góp phần bồi dƣỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ cho địa phƣơng, tạo điều kiện để kinh tế - xã hội trên địa bàn phát triển vững chắc. Quản lí tài chính tại các doanh nghiệp 1. Khái niệm tài chính và quản lí tài chính tại các doanh nghiệp * Khái niệm về tài chính: “Tài chính là hệ thống các luồng chuyển dịch giá trị phản ánh sự vận động và chuyển hóa các nguồn tài chính trong quá trình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đạt tới các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. Nói cách khác, tài chính doanh nghiệp là hệ thống những mối quan hệ kinh tế diễn ra dƣới hình thức giá trị giữa 8 doanh nghiệp và môi trƣờng xung quanh, nó phát sinh trong quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp” [2,tr.
* Quản lí tài chính: Quản lý tài chính là sự tác động của nhà quản lý tới các hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Nó đƣợc thực hiện thông qua một cơ chế. Đó là cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp. Cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp đƣợc hiểu là một tổng thể các phƣơng pháp, các hình thức và công cụ đƣợc vận dụng để quản lý các hoạt động tài chính của doanh nghiệp trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt đƣợc những mục tiêu nhất định [4,tr.
Hiểu theo một cách đơn giản thì quản lý tài chính là việc các nhà quản lý dựa trên quy luật vận động vốn, đồng thời cần tuân thủ theo quy định pháp luật làm cách nào để huy động vốn nhanh và ổn định nhất, phân bổ và sử dụng nguồn vốn ấy có hiệu quả nhất, đƣa lại lợi nhuận cao và ổn định cho doanh nghiệp, đảm bảo cho hoạt động tài chính và hoạt động của doanh nghiệp phát triển ổn định. Một doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau nhƣ: tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa doanh thu trong ràng buộc tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa hoạt động hữu ích của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp… song tất cả các mục tiêu cụ thể đó đều nhằm mục tiêu bao trùm nhất là tối đa hóa giá trị tài sản cho các chủ sở hữu. Bởi lẽ một doanh nghiệp phải thuộc về các chủ sở hữu nhất định; chính họ phải nhận thấy giá trị đầu tƣ của họ tăng lên; khi doanh nghiệp đặt ra mục tiêu là tăng giá trị tài sản cho chủ sở hữu, doanh nghiệp đã tính tới sự biến động của thị trƣờng, các rủi ro trong hoạt động kinh doanh. Quản lý tài chính doanh nghiệp chính là nhằm thực hiện đƣợc mục tiêu đó [3, tr.
Nội dung quản lí tài chính tại các doanh nghiệp * Công tác lập kế hoạch tài chính: Lập kế hoạch tài chính - để chủ động dòng tiền, tối ƣu hóa chi tiêu và đầu tƣ trong kinh doanh. Lập kế hoạch tài chính thì phải kiểm soát nhật ký chi 9 tiêu theo giới hạn / hạn mức kế hoạch. Việc lập kế hoạch tài chính phải có sự tham gia của các trƣởng bộ phận / dự án / phòng ban. Cuối kỳ phải báo cáo thực hiện, so sánh thực tế với kế hoạch.