CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐO LƯỜNG CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP SỞ (DDCI) 1. Những vấn đề chung về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp sở ban ngành 1. Khái niệm chỉ số năng lực cạnh tranh cấp sở (DDCI) Bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh cấp Sở, Ngành, Địa phương nhằm mục đích đánh giá năng lực của chính quyền các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và các Sở, Ban, Ngành trên khía cạnh điều hành kinh tế, từ đó tạo động lực cải thiện chất lượng giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tạo môi trường thuận lợi nhất cho nhà đầu tư, các doanh nghiệp đang hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh[8]. DDCI (viết tắt của Department and District Competitiveness Index) là Bộ chỉ số đánh giá chất lượng năng lực điều hành các sở ban ngành và địa phương thuộc tỉnh, thành phố.
Bộ chỉ số này được xây dựng trên cơ sở ý kiến đánh giá, phản hồi của nhà đầu tư, doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể, hợp tác xã đang đầu tư, hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn về chất lượng điều hành của các sở, ban, ngành và UBND các huyện, thị xã[8]. Khảo sát DDCI trên cơ sở thăm dò mức độ hài lòng của nhà đầu tư, doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể, hợp tác xã đang đầu tư, hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn thành phố được đánh giá là giải pháp mang tính hiệu quả và đồng bộ để cải thiện chất lượng điều hành các cấp từ tỉnh đến cơ sở, giúp cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao kết quả thu hút đầu tư và cải thiện năng lực canh tranh cấp tỉnh (PCI). DDCI là cơ sở đánh giá công tác điều hành của chính quyền địa phương và các Sở, Ban, Ngành nhằm đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đồng thời đề xuất giải pháp nhằm chấn chỉnh, khắc phục những hạn chế, tồn tại của những lĩnh vực được khảo sát[8]. 8 Khi triển khai DCCI, các sở, ngành, địa phương sẽ ý thức rõ ràng hơn về trách nhiệm phải nâng cao chất lượng điều hành, giải quyết các thủ tục hành chính đối với người dân và doanh nghiệp.
Nguyên tắc xây dựng bộ chỉ số DDCI Bộ chỉ số đánh giá Năng lực cạnh tranh cấp Sở, Ngành và Địa phương (DDCI) được xây dựng và triển khai đảm bảo các nguyên tắc sau: Nguyên tắc thực tế Chỉ số DDCI được xây dựng dựa trên các nội dung liên quan trực tiếp tới năng lực điều hành kinh tế và môi trường kinh doanh tại cấp Sở, Ngành và Địa phương. Các nội dung này phải phản ánh được các chức năng, nhiệm vụ thực tế mà các Sở, Ban, Ngành và Địa phương đang chịu trách nhiệm đảm nhận[8]. Nguyên tắc gắn kết trách nhiệm Các nội dung của chỉ số DDCI phải phản ánh được cảm nhận của các đối tượng điều tra về kết quả xử lý các TTHC nói riêng, năng lực và thái độ phục vụ của các phòng, ban nói chung. Kết quả đánh giá hỗ trợ cho việc gắn kết trách nhiệm cụ thể của từng phòng ban liên quan[8].
Nguyên tắc khả thi Bộ công cụ chỉ số DDCI phải có khả năng cho thấy những khác biệt về năng lực điều hành kinh tế và hiệu quả cải cách hành chính liên quan đến đầu tư, hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà đầu tư, các doanh nghiệp ở các Sở, Ngành và Địa phương. Nói cách khác, các nội dung của chỉ số DDCI phải có ý nghĩa so sánh năng lực điều hành giữa các Sở, Ngành, Địa phương[8]. Nguyên tắc chính xác Yêu cầu về tính chính xác là điều mà kết quả khảo sát chỉ số DDCI cần đảm bảo. Phương pháp xây dựng chỉ số và cách thức tiến hành khảo sát cần phản ánh trung thực, khách quan cảm nhận của các đối mẫu điều tra.
Bên cạnh đó, mẫu khảo sát cũng phải thể hiện tính đại diện và độ tin cậy phù hợp[8]. 9 Nguyên tắc có ý nghĩa Các kết quả rút ra từ khảo sát chỉ số DDCI phải có ý nghĩa với việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và nâng cao năng lực điều hành kinh tế cấp Sở, Ngành, Địa phương. Điều này thể hiện qua việc kết quả phân tích chỉ số DDCI sẽ giúp chỉ ra ưu, nhược điểm, những điểm đã làm tốt và những điểm tồn tại hạn chế để các cấp Sở, Ngành và chính quyền địa phương để có định hướng cải thiện đồng thời tạo sự cạnh tranh, thi đua để nâng cao chất lượng điều hành kinh tế giữa chính quyền các huyện, thị xã, thành phố và các sở, ban ngành[8]. Nguyên tắc triển khai đánh giá DDCI Công tác triển khai đánh giá DDCI phải đảm bảo các nguyên tắc sau: - Đảm bảo lượng hóa các chỉ số, chỉ tiêu; đảm bảo tính đa chiều trong đánh giá; đảm bảo tính thường xuyên liên tục của việc khảo sát, đánh giá; - Đảm bảo tính trung thực, công khai, khách quan, công bằng; phản ánh kịp thời, đúng tình hình thực tế kết quả thực hiện công tác cải cách hành chính của các sở, ban, ngành và địa phương; - Được tổ chức định kỳ hàng năm.
Kết quả DDCI được công bố, công khai và làm cơ sở để đánh giá công tác thi đua, xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ hàng năm của các sở ban ngành và địa phương. Bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh cấp sở Bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh các sở ban ngành và địa phương gồm 08 chỉ số thành phần sau: (1) Tính minh bạch và tiếp cận thông tin; (2) Tính năng động của sở ban ngành và địa phương; (3) Chi phí thời gian; (4) Chi phí không chính thức; (5) Cạnh tranh bình đẳng; (6) Hỗ trợ Doanh nghiệp; (7) Thiết chế pháp lý; (8) Vai trò người đứng đầu. Trong các chỉ số thành phần bao gồm nhiều chỉ tiêu con, mỗi chỉ tiêu con của chỉ số thành phần đều có cách thức đánh giá và tính điểm riêng, làm cơ sở để xây dựng công cụ và công thức tính điểm DDCI. Mối quan hệ giữa DDCI và PCI DDCI được coi là yếu tố cốt lõi trong công tác nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện chỉ số PCI.
Hiệu quả của các chính sách, giải pháp cải thiện CPI phụ thuộc vào việc thực thi từ cấp sở, ngành, địa phương. Đặc biệt đối với doanh nghiệp trực tiếp làm việc với cấp sở, ngành, địa phương, DDCI được đánh giá là kênh hiệu quả nhất để tiếp thu ý kiến phản hồi của doanh nghiệp về chất lượng điều hành của chính quyền. DDCI đã góp phần quan trọng tạo chuyển biến từ tư duy nhận thức, quan điểm chỉ đạo và triển khai đồng bộ các giải pháp trong công tác cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút nguồn lực của địa phương; nâng cao chất lượng các nhiệm vụ chuyên môn của sở, ngành kéo theo các đơn vị sở, ngành, địa phương khác trên địa bàn đều tích cực vào cuộc góp phần nâng cao chỉ số PCI. DDCI là động lực đổi mới trong công tác tuyển dụng lãnh đạo, quản lý, sử dụng công chức, viên chức và công tác tổ chức bộ máy; triển khai bộ chỉ số cải cách hành chính; triển khai đo lường chỉ số hài lòng của người dân đối với cơ quan hành chính; tuyên truyền công tác cải cách hành chính; kỹ năng giao tiếp trong thực thi công vụ.
góp phần cải thiện chỉ số CPI. Nội dung đánh giá chỉ số năng lực cạnh tranh cấp sở theo DDCI 1. Tính minh bạch và tiếp cận thông tin Chỉ số thành phần Tính Minh bạch và tiếp cận thông tin chiếm trọng số 10% số điểm và được đánh giá thông qua 3 nhóm chỉ tiêu được hợp thành 3 nhóm chỉ tiêu: (1) Đánh giá về trang thông tin điện tử; (2) Các thủ tục, phí và lệ phí khi thực hiện thủ tục hành chính; (3) Tính công bằng trong tiếp cận thông tin. Chi tiết thể hiện ở bảng dưới: 11 Bảng 1.1: Tính Minh bạch và tiếp cận thông tin Công thức Mục Tên chỉ tiêu tính 1: Tính minh Sub1=A1+ bạch A2+A3 Đã từng truy cập trang thông tin điện tử của Sở hay chưa?: Chưa từng truy cập Đánh giá về Đã từng truy cập A1=A1.1+ Trang thông tin Nếu có thì các thông tin trên trang điện tử có A1.2 điện tử đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp anh/chị hay không? Đáp ứng được Chưa đáp ứng được Các thủ tục, phí, lệ phí khi thực hiện THHC của Sở có được công khai không? Nếu được Các thủ tục, phí công khai: công khai toàn bộ hay chỉ công và lệ phí khi A2 khai một phần: thực hiện thủ Công khai tục hành chính Công khai một phần Không công khai Sở TN&MT Hải Phòng công khai lấy ý kiến doanh nghiệp khi xây dựng dự thảo các văn Tính công bằng bản pháp luật liên quan đến doanh nghiệp: A3=A3.1+ trong tiếp cận Hoàn toàn đồng ý A3.2 thông tin Đồng ý Không đồng ý Hoàn toàn không đồng ý 12 Công thức Mục Tên chỉ tiêu tính “Mối quan hệ với cán bộ cơ quan nhà nước” giúp các doanh nghiệp thuận lợi hơn trong tiếp cận với các thông tin, tài liệu quan trọng của sở ban ngành: Hoàn toàn đồng ý Đồng ý Không đồng ý Hoàn toàn không đồng ý (Nguồn: Chỉ số DDCI tỉnh Quảng Ninh năm 2016-2018) 1.
Tính năng động Tính năng động của Sở ban ngành chiếm trọng số 15% số điểm và gồm 3 nhóm chỉ tiêu: (1) Nắm bắt và xử lý được những bất cập, vướng mắc trong phạm vi quyền hạn; (2) Đánh giá về tính chủ động của Sở, ngành/Địa phương; (3) Đánh giá về tính linh hoạt trong thực hiện các quyết định/chủ trương của UBND tỉnh. Cụ thể như bảng dưới: Bảng 1.