mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt tuc la ngươi gưi tien không cân đên ngân hàng đê lây tiên mà chỉ cần viết giấy chi trả cho khách (còn được gọi là séc), khách hàng mang giấy đến ngân hàng se nhạn được tien. Khi ngân hàng mở chi nhánh, thanh toán qua ngân hàng được mơ rộng phạm vi, càng tạo nhiêu tiện ích cho doanh nghiệp. Điều này khuyến khích các doanh nghiệp gửi tiền vào ngân hàng để nhờ ngân hàng 9 thanh toán hộ. Như vậy một dịch vụ mới, quan trọng nhất được phát triển là tài khoản tiền gửi giao dịch cho phép người gửi tiền viết séc thanh toán cho hàng hoá và dịch vụ.
Sự xuất hiện tài khoản mới này được xem là một trong những bước đi quan trọng nhất trong công nghiệp ngân hàng. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, nhiều thế thức thanh toán được phát triển như: uỷ nhiệm chi, nhờ thu, L/C, thanh toán bằng điện thẻ. Dịch vụ thanh toán gồm: mở tài khoản thanh toán, đại lý thanh toán thẻ, phát hành thẻ, thanh toán quốc tế. [2] Cùng vói sự phát triển của nền kinh tế, bên cạnh việc khai thác một cách có hiệu quả hơn những nghiệp vụ truyền thống này, các NHTM còn mở rộng đa dạng các dịch vụ ngân hàng để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng và thực hiện mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận thông qua việc thu phí dịch vụ.
Những dịch vụ có thể kể đến như các dịch vụ ngân quỹ, cho thuê két sắt, bảo quản, giữ hộ giấy tờ có giá, kim loại quý của khách hàng, các dịch vụ kinh doanh ngoại tệ. Tuy nhiên, tại Việt Nam, các hoạt động này mới chỉ bắt đầu hình thành và được triển khai ở một số ngân hàng, chưa thực sự phát triển trên quy mô rộng và nhiều. Khái niệm về năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thưong mại Cho đến nay, mặc dù có rất nhiều công trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh hay lợi thế cạnh tranh song tất cả các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng rất khó có thể đưa ra một định nghĩa chuẩn về khái niệm năng lực cạnh tranh đúng cho mọi trường hợp. Ở cấp độ vi mô, các tác giả Michael Dunford, Helen Louri và Manfred Rosentock cho rằng “Những doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh ỉà những doanh nghiệp đạt được mức tiên bộ cao hom mức trung bình về chất lượng hàng hoá và dịch vụ và/hoặc có khả năng cắt giảm các chi phí tưomg đổi cho phép họ tăng được lợi nhuận và/hoặc thị phần.
10 Định nghĩa này đã chỉ rõ mục tiêu của cạnh tranh và những đặc điểm cơ bản cua viẹc cạnh tranh thành công. Tuy nhiên, nó lại không chỉ ra được khả năng đó do đâu mà có và chỉ đề cập cạnh tranh ở trạng thái tĩnh. Trên thực tế năng lực cạnh tranh còn là một khái niệm động. Một doanh nghiệp được coi là có kha nang cạnh tranh còn phải là doanh nghiệp có khả năng duy trì và liên tục tăng cường khả năng cạnh tranh của mình.
Khăc phục được hạn chế của định nghĩa trên, giáo sư Michael Porter học gia được CO I la co nhiêu ảnh hưởng nhât trong lĩnh vực nghiên cứu về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh quốc tế, đã đề cập một cách toàn diện hơn về vấn đề này: “Đe có thể cạnh tranh thành công, các doanh nghiệp phải có được lợi thê cạnh tranh dưới hình thức hoặc là có được chi p h í sản xuất thấp hơn hoặc có khả năng khác biệt hoá sản phẩm để đạt được những mức giá cao hơn trung bình. Đê duy trì lợi thế cạnh tranh, các doanh nghiệp cần ngày càng đạt được những lợi thế cạnh tranh tinh vi hơn, qua đó có thể cung cấp những hàng hoá hay dịch vụ có chất lượng cao hơn hoặc sản xuất có hiệu suất cao hơn Như vạy, du chưa có một khái niệm thông nhất về năng lực cạnh tranh chúng ta có thể thấy khái niệm năng lực cạnh tranh là một khái niệm động và vì thê các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh cũng không phải là một hệ thong cac tieu chí cô định. Đó phải là một hệ thống các tiêu chí không chỉ phản ánh năng lực cạnh tranh hiện tại mà còn phải phản ánh được khả năng duy trì và phát triển lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trong tương lai. Việc xác đinh được hệ thông các tiêu chí này có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng cho mỗi doanh ngihệp để có định hướng xây dựng, khai thác và phát triển lợi thế cạnh tranh của mình.
v ề khái niệm năng lực cạnh tranh của NHTM, PGS.TS Nguyễn Thị Quy tại đê tài nghiên cứu của mình đã đưa ra khái niệm như sau: “Năng lực cạnh 11 tranh cua mọt ngân hàng là khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì và phát triên những lợi thê nhằm duy trì và mở rộng thị phần; đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng đồng thời đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh [3] Từ khái niệm trên cho thấy, nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM nhăm đạt được 3 mục tiêu cơ bản, đó là: * Thứ nhất, tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần Viẹc tạo ra lợi thê, duy trì và phát triên lợi thê của mình là vấn đề được quan tâm và chú trọng nghiên cứu của không chỉ các ngân hàng mà còn của bat cư doanh nghiẹp hoạt động kinh doanh nào. Đôi với các ngân hàng thị phần huy động vốn, cho vay và cung cấp các dịch vụ ngân hàng thể hiện quy mô hoạt động. Từ việc mở rộng thị phần, các ngân hàng có thể nâng cao uy tín, đạt được các mục tiêu lợi nhuận đã đề ra. TỈĨU’ hai, đạt được mức lọi nhuân cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng Các ngân hàng phải đạt được và liên tục duy trì mức lợi nhuận cao trên cơ sở bám sát với nhịp độ phát triển của thị trường, của ngành.
Tuy nhiên mục tieu này phải găn liên với phát triên bên vững, sử dụng hiệu quả các nguồn lực của xã hội. Thư ba, đảm báo sự hoạt động an toàn và lành manh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kỉnh doanh. B ả o đ ả m a n t o à n là m ụ c t i ê u m à c á c n g â n h à n g lu ô n h ư ớ n g tớ i đ ể g iả m t h i ê u c á c k h o ả n n ợ x â u , n ợ t ô n đ ọ n g , g iả m đ ế n m ứ c t h ấ p n h ấ t c á c tà i s ả n k h ô n g s in h lờ i. 12 Đây là ba mục tiêu cơ bản mà NHTM luôn quan tâm hướng tới.
Hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu cuối cùng của các NHTM là lợi nhuận. Lợi nhuận là thước đo hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Tuy nhiên, mục tiêu lợi nhuận cần gắn với việc mở rộng thị phần và đảm bảo sự hoạt động an toàn, lành mạnh, phát triến một cách bền vững. Việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng không chỉ là việc tạo ra vị thế cạnh tranh hiện tại mà còn phải duy trì, phát triển vị thế đó trong tương lai.
Những đặc điếm trong cạnh tranh của Ngân hàng thương mại [1] [4Ị Do đặc thù là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ - tín dụng - ngân hàng nên ngoài những đặc điểm chung giống như cạnh tranh của các doanh nghiệp nói chung trong nền kinh tế, cạnh tranh của ngân hàng có những đặc điểm khác biệt so với các ngành khác. Trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ phân tích những đặc trưng cạnh tranh riêng có của ngân hàng để làm cơ sở đưa ra các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh phù hợp với hoạt động kinh doanh của ngân hàng: * Cạnh tranh ngân hàng luôn phải hướng tới một thị trường lành mạnh, tránh xảy ra rủi ro hệ thống Đây là đặc trưng cạnh tranh cơ bản, khác biệt nhất của ngành ngân hàng so với các ngành kinh tế khác. Kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ là lĩnh vực kinh doanh rất nhạy cảm, chịu tác động bởi rất nhiều nhân tố về kinh tế, chính trị, xã hội, tâm lý, truyền thống văn hóa. Mỗi một nhân tổ này có sự thay đổi dù là nhỏ nhất cũng đều tác động rất nhanh chóng và mạnh mẽ đến môi trường kinh doanh chung.
Chẳng hạn, chỉ cần một tin đồn thổi dù là thất thiệt cũng có thể gây nên cơn chấn động rất lớn, thậm chí đe dọa sự tồn vong của cả hệ thống các tổ chức tín dụng. Một NHTM hoạt động yếu kém, khả 13 năng thanh khoản thấp cũng có thể trở thành gánh nặng cho nhiều tổ chức kinh tế và dân chúng trên địa bàn. Chính vì vậy, cũng như các doanh nghiệp, các NHTM cạnh trạnh mạnh mẽ với nhau và thông qua cạnh tranh tạo ra động lực cho sự phát triển chung của toàn hệ thống ngân hàng. Tuy nhien, cac NHTM vừa phải cạnh tranh đê từng bước mở rộng mạng lưới khách hàng, mở rộng thị phần, nhưng cũng không thể cạnh tranh bằng mọi giá, sử dụng mọi thủ đoạn, bất chấp pháp luật để thôn tính đối thủ của mình bởi vi, nếu đối thủ là các NHTM khác bị suy yếu dẫn đến sụp đổ, thì những hậu quả đem lại thường là rất to lớn, thậm chí dẫn đến đổ vỡ luôn chính NHTM này do tác động dây chuyền.
* Các NHTM luôn cạnh tranh gay găt với nhau nhưng cũng có sư hữp tác với nhau Cũng như bất kỳ một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào, trong hoạt động kinh doanh của mình, các ngân hàng phải luôn cạnh tranh gay gắt với nhau đế mở rộng thị trường và thu hút khách hàng nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Tính chất gay gắt trong cạnh tranh ngân hàng xuất phát từ đặc thì của sản phẩm, dịch vụ ngân hàng là có tính tương đồng cao và rất dễ bị bắt chước. Mặt khác, trong cạnh tranh các ngân hàng không chỉ sử dụng các công cụ cạnh tranh mang tính truyên thông như phí, lãi suất, các dịch vụ ngân hàng .