phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chƣơng: CHƢƠNG 1: Lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại CHƢƠNG 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng TMCP Công Thƣơng Việt Nam CN Vĩnh Phúc. CHƢƠNG 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng TMCP Công Thƣơng Việt Nam CN Vĩnh Phúc. 4 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.Tổng quan về cạnh tranh a. Khái niệm về cạnh tranh Thế kỷ XX, nhiều lý thuyết cạnh tranh hiện đại ra đời nhƣ lý thuyết của Micheal Porter, J.Krugman … Trong đó, phải kể đến lý luận “lợi thế cạnh tranh” của Micheal Porter, ông giải thích hiện tƣợng khi doanh nghiệp tham gia cạnh tranh thƣơng mại quốc tế cần phải có “lợi thế cạnh tranh” và “lợi thế so sánh”.
Ông phân tích lợi thế cạnh tranh tức là sức mạnh nội sinh của doanh nghiệp, của quốc gia, còn lợi thế so sánh là điều kiện tài nguyên, sức lao động, môi trƣờng tạo cho doanh nghiệp, quốc gia đó có thuận lợi trong sản xuất cũng nhƣ trong thƣơng mại. Ông cho rằng lợi thế cạnh tranh và lợi thế so sánh có quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau, lợi thế cạnh tranh phát triển dựa trên lợi thế so sánh, lợi thế so sánh phát huy nhờ lợi thế cạnh tranh. Qua quan điểm về các lý thuyết cạnh tranh Micheal Porter cho thấy, nếu tiếp cận cạnh tranh ở giác độ kinh tế thì cạnh tranh có vai trò vô cùng quan trọng, đặc biệt là vai trò tạo ra động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp. Theo đó có thể hiểu, cạnh tranh là đấu tranh để giành lấy thị trƣờng tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ bằng những biện pháp ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, kinh tế, chính trị… để tạo ra nhiều lợi thế nhất, tạo ra nhiều sản phẩm mới với năng suất và chất lƣợng cao nhất.
Trong một ngành kinh doanh, mọi điều kiện bên ngoài là bình đẳng, 5 sau một chu kỳ nhất định ai giành đƣợc thị phần lớn nhất, có lợi nhuận cao nhất, phát triển một cách bền vững nhất thì ngƣời đó giành chiến thắng trong cạnh tranh. Để có thể chiến thắng trong cạnh tranh thì các chủ thể cạnh tranh cần phải có khả năng cạnh tranh, mà khả năng cạnh tranh đó chính là sức cạnh tranh hay năng lực cạnh tranh. Cạnh tranh đƣợc xem là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trƣờng nhằm giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về mình. Cùng theo đó, cạnh tranh là một tình huống ở thị trƣờng mà trong đó các doanh nghiệp hoặc ngƣời bán, một cách độc lập với nhau, cố gắng thu hút khách hàng để đạt đƣợc một mục tiêu kinh doanh cụ thể nào đó.
Cạnh tranh trong hoàn cảnh này tƣơng đƣơng với sự tranh đua.Tranh đua mang tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có thể xẩy ra khi có hai hoặc nhiều doanh nghiệp. Cạnh tranh có thể thông qua giá, chất lƣợng, dịch vụ hoặc kết hợp các yếu tố trên và các yếu tố khác mà khách hàng đánh giá cao. Cạnh tranh đƣợc coi nhƣ một quá trình quan trọng mà qua đó các doanh nghiệp bị buộc phải trở nên hiệu quả và cung cấp nhiều lựa chọn hơn về sản phẩm và dịch vụ với giá thấp hơn. Điều này làm tăng lợi ích của ngƣời tiêu dùng và sự phân bố có hiệu quả hơn.
Ở Việt Nam, đề cập đến “Cạnh tranh” cho rằng, cạnh tranh là vấn đề giành lợi thế về giá cả hàng hóa – dịch vụ (mua và bán) và đó là phƣơng thức đề giành lợi nhuận cao cho các chủ thể kinh tế. Nói khác đi, mục đích trực tiếp của hoạt động cạnh tranh trên thị trƣờng của các chủ thể kinh tế là giành lợi thế để hạ thấp các yếu tố đầu vào của chu trình sản xuất – kinh doanh và nâng cao giá của đầu ra sao cho mức chi phí thấp nhất, giành lợi nhuận cao nhất. Nhƣ vậy, trên quy mô toàn xã hội, cạnh tranh là phƣơng thức phân bổ các nguồn lực một cách tối ƣu và do đó nó trở thành động lực bên trong thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Mặt khác, đồng thời với tối đa hóa lợi nhuận của 6 các chủ thể kinh doanh, cạnh tranh cũng là yếu tố thúc đẩy quá trình tích lũy và tập trung tƣ bản không đồng đều ở các doanh nghiệp.Và từ đó, cạnh tranh còn là môi trƣờng phát triển mạnh mẽ cho các chủ thể kinh doanh thích ứng với thị trƣờng, dẫn tới quá trình tập trung hóa trong từng ngành, vùng, quốc gia.
Xét theo hƣớng tiếp cận của đề tài này (từ những nghiên cứu về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh trên, học viên xin đƣa ra khái niệm cạnh tranh nhƣ sau: Cạnh tranh là một quá trình ganh đua mà trong đó, các chủ thể kinh tế ganh đua, tìm mọi biện pháp (kể cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn kinh doanh) để đạt đƣợc mục tiêu kinh tế chủ yếu của mình nhƣ: chiếm lĩnh thị trƣờng, nâng cao thị phần, nâng cao vị thế của mình trên thị trƣờng… Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích. Các loại hình cạnh tranh Có nhiều tiêu thức đƣợc sử dụng làm căn cứ để phân loại cạnh tranh. Căn cứ phổ biến thƣờng dựa vào chủ thể tham gia thị trƣờng, mức độ, tính chất cạnh tranh trên thị trƣờng và phạm vị kinh tế. Căn cứ vào chủ thể tham gia trên thị trƣờng: - Cạnh tranh giữa ngƣời bán và ngƣời mua: đây là cuộc cạnh tranh diễn ra theo quy luật “mua rẻ, bán đắt”.
Ngƣời mua muốn mình mua đƣợc sản phẩm mình cần với giá thấp, ngƣời bán muốn bán sản phẩm đó với giá cao, qua quá trình mặc cả để xác định giá bán của hàng hóa. - Cạnh tranh giữa ngƣời mua với nhau: là cuộc cạnh tranh trên cơ sở của quy luật cung - cầu. Nếu cung nhỏ hơn thì ngƣời mua bị thiệt bởi phải mua hàng hóa với giá cao, nếu cung lớn hơn thì ngƣời mua đƣợc lợi bởi sẽ mua đƣợc hàng hóa với giá rẻ. - Cạnh tranh giữa ngƣời bán với nhau: đây là cuộc cạnh tranh chủ yếu trên thị trƣờng với tính gay go và khốc liệt, cạnh tranh này có ý nghĩa sống 7 còn đối với doanh nghiệp nhằm chiếm lĩnh thị trƣờng, thu hút khách hàng và kết quả là hàng hóa gia tăng cả về chất lƣợng và mẫu mã nhƣng giá cả lại rẻ hơn và có lợi cho ngƣời mua.
Căn cứ vào hình thái và tính chất của cạnh tranh trên thị trƣờng: - Cạnh tranh hoàn hảo: là loại hình cạnh tranh có đặc điểm nhƣ: có vô số ngƣời bán, ngƣời mua độc lập với nhau; sản phẩm đồng nhất; thông tin đầy đủ; không có rào cản quy định. - Cạnh tranh không hoàn hảo: bao gồm cạnh tranh mang tính độc quyền và độc quyền tập đoàn + Cạnh tranh mang tính độc quyền là thị trƣờng trong đó có nhiều hãng bán các sản phẩm tƣơng tự (thay thế đƣợc cho nhau) nhƣng đƣợc phân biệt khác nhau. Với loại hình cạnh tranh này, sản phẩm đa dạng hóa, các hãng cạnh tranh nhau bằng việc bán các sản phẩm khác nhau về nhãn hiệu, mẫu mã, bao bì, các điều kiện dịch vụ đi kèm, chất lƣợng và thƣơng hiệu; mỗi hãng là ngƣời sản xuất duy nhất với sản phẩm của mình; hình thức cạnh tranh chủ yếu là thông qua nhãn mác. + Cạnh tranh mang tính độc quyền tập đoàn: khi đó thị trƣờng chỉ có vài hãng bán những sản phẩm đồng nhất (độc quyền tập đoàn thuần túy) hoặc phân biệt (độc quyền tập đoàn phân biệt).
Đặc điểm của loại hình này là chỉ có ít hãng cạnh tranh trực tiếp; các hãng phụ thuộc chặt chẽ (mỗi hãng khi ra quyết định phải căn nhắc xem hành động của mình ảnh hƣởng nhƣ thế nào tới đối thủ cạnh tranh và phải ứng xử nhƣ thế nào?); tốc độ phản ứng của thị trƣờng có thể rất nhanh (thay đổi giá) hoặc đòi hỏi có thời gian (cải tiến sản phẩm); việc gia nhập thị trƣờng của các hãng mới là rất khó khăn (rào chắn cao) vì những trở ngại đầu tiên nhƣ nền kinh tế theo quy mô, đang phải chi tiền cho bản quyền để tạo lập vị thế và danh tiếng trên thị trƣờng. Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế: 8 - Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất, tiêu thụ một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó, trong đó các chủ doanh nghiệp tìm mọi cách để thôn tính lẫn nhau, giành giật khách hàng về phía mình, chiếm lĩnh thị trƣờng. Biên pháp cạnh tranh của hình thức này chủ yếu là cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, giá trị cá biệt (giá trị xã hội), thu lợi nhuận siêu ngạch. Kết quả cạnh tranh trong nội bộ ngành là làm cho kỹ thuật phát triển, điều kiện sản xuất trong một ngành thay đổi, giá trị hàng hóa đƣợc xác định lại, tỷ suất lợi nhuận giảm xuống và doanh nghiệp nào chiến thắng sẽ mở rộng đƣợc phạm vi hoạt động, doanh nghiệp thua sẽ mất thị phần, thu hẹp phạm vi hoạt động, thậm chí dẫn tới phá sản.
- Cạnh tranh giữa các ngành: là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành kinh tế khác nhau nhằm mục đích đầu tƣ có lợi hơn. Biện pháp cạnh tranh của hình thức này là dịch chuyển vốn từ ngành ít lợi nhuận sang ngành có lợi nhuận nhiều hơn. Cạnh tranh giữa các ngành sẽ đem lại kết quả là các doanh nghiệp, các nhà đầu tƣ ở các ngành khác nhau với cùng một số vốn bỏ ra chỉ thu đƣợc lợi nhuận nhƣ nhau, tức là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân cho tất cả các ngành. Các chiến lược cạnh tranh Chiến lƣợc chi phí thấp nhất - Mục tiêu của công ty theo đuổi chiến lƣợc chi phí thấp là tạo lợi thế cạnh tranh bằng cách tạo ra sản phẩm với chi phí thấp nhất.
- Đặc điểm: Tập trung vào công nghệ và quản lý để giảm chi phí Không tập trung vào khác biệt hóa sản phẩm Không đi tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu, đƣa ra tính năng mới, sản phẩm mới 9 Nhóm khách hàng mà công ty phục vụ thƣờng là nhóm “khách hàng trung bình”.